Sư bảo Nguyễn Đăng Tuân với chín đạo thường dạy Vua an dân trị quốc

Nguyễn Đăng Tuân quê ở làng Phù Chánh, huyện Lệ Thủy là một làng nghèo ven biển bãi ngang, trải dài theo đường thiên lý Bắc Nam dựa lưng vào một đụn cát có tên là Bạch Sơn (theo thuyết phong thủy thì dải Bạch Sơn ''núi trắng'' này giống hình một bầy voi chầu về Phù Chánh, một con chầu về xóm Phù Lưu, một con chầu về xóm Trầm Cát, một con chầu về xóm Phát Lát), bốn con voi làm thành một đàn voi đời đời trấn ngự, giữ gìn tinh hoa của làng xóm nơi đây, vun đắp sự sinh tồn và phát nên nhiều trang tuấn kiệt.
Trong năm anh em cùng làm quan thời triều Nguyễn (Nguyễn Đăng Tuân, Nguyễn Đăng Giai, Nguyễn Đăng Hành, Nguyễn Đăng Cù, Nguyễn Đăng Cư) thì Nguyễn Đăng Tuân là người được lịch sử ghi nhận những tư tưởng tiến bộ trong việc giúp Vua trị nước, yên dân.

Vua Thiệu Trị là con trai đầu của Minh Mạng do bà Thuận Đức Nhân Hoàng hậu Hồ Thị Hoa sinh ra. Minh Mạng muốn Hoàng tử sớm nối nghiệp mình, sớm trưởng thành nên đã ban truyền tuyển người về giảng tập lễ phép cho Hoàng tử và các Công chúa. Nguyễn Đăng Tuân vốn là một công thần hay chữ, thông nghĩa lý, làm quan được dân tin mến đã lọt vào mắt rồng. Khi ông đang giữ chức Tri huyện Ngọc Sơn liền được Vua ban chỉ triệu về Kinh làm Thị giảng ở cung Chấn hành. Sau một thời gian trực tiếp việc sách đèn giảng học đã làm cho ông có nhiều suy nghĩ những phiến diện của đạo học thời ấy. Bởi thế đã có lần Nguyễn Đăng Tuân mạnh dạn tâu lên Vua Minh Mạng những suy nghĩ của mình: ''Các Hoàng tử ở nhà tập thiện, lúc tiến, lúc dừng phần nhiều chưa hợp lẽ, nếu chỉ giảng tập lễ phép thường thôi, sợ khó nên người có đức. Xin cho thêm chước khuôn phép giảng học...''.

Lời tâu của Nguyễn Đăng Tuân thấu tình, đạt lý đã làm cho Vua thấu rõ ruột gan càng khâm phục người dưới trướng mình nên tỏ ý nghe theo. Năm Minh Mạng thứ 14, những nghị định điều lệ về đạo đức do Nguyễn Đăng Tuân soạn thảo chu đáo, rõ ràng, đúng đắn đem dâng lên, bèn được Vua phê chuẩn. Ông được phong hàm Thượng Thư vào năm 1833.

Khi tuổi đã già, Nguyễn Đăng Tuân tâu xin lưu chức trở về quê dưỡng lão. Ngày vua Minh Mạng băng hà, Thiệu Trị lên ngôi Vua, Ông vào Kịnh viếng, được Vua giữ lại để bổ hàm Thượng Thư Bộ Lễ. Biết mình tuổi cao, sức yếu nên Ông khẩn thiết xin từ. Tuy thế, từ lòng tin ấy, ông lại làm biểu dâng lên Vua tỏ lòng tạ ân sâu và xin góp những thiện kiến của nghĩa Vua Tôi. Vừa là tình thầy trò, vừa là đạo thần dân từng ăn lộc Nước. Biểu dâng Ông nêu rõ: ''Chỉ xin rộng một đạo hiếu để ban ra luân thường, rõ Chín đạo thường mà lập đạo trị quốc...''. Ông xin ghi rõ chín Đạo thường. Đó là:

1- Sửa mình.
2- Thân yên trăm họ.
3- Tôn trọng người hiền.
4- Kính trọng đại thần.
5- Thể tất quân thần.
6- Thương yêu muôn dân.
7- Khuyên lơn trăm họ
8- Phủ ủy người phương xa
9- Bao dung nước chư hầu.

Sau khi vua Thiệu Trị đọc sớ dâng, ngẫm nghĩ kỹ Chín đạo thường, liền ra lời khen: ''Mấy lời này rạng rỡ hơn 2 đạo Sớ... Tiên sinh đã chống gậy vào viếng tang, cảm kính do tự trong lòng, dâng bài biểu tạ để làm khuôn mẫu, lòng thành thực càng nhiều, lấy đấy mà bàn, hai họ Sớ không bằng''.

Với Nguyễn Đăng Tuân trước là nghĩa vua tôi, sau là tình thầy trò, bởi vậy suốt thời gian trị nước, Thiệu Trị luôn lấy chín đạo thường ấy để soi sáng cho mình lo việc yên dân vững bề trị quốc.

Đạo làm quan của Nguyễn Đăng Tuân như là một tấm gương sáng để con cháu soi chung và muôn dân kính nể. Càng kính nể hơn khi Ông về già Vua ban sắc phong cho Ông, Ông lại từ chối dâng sớ luận đạo đời: ''Thần nghe nói người đời xưa nói rằng, phàm việc gì cũng nên để đức có thừa không hết về sau, làm quan nên lấy thanh bạch mà để cho con cháu... '' Ông đã từ chối hết những gì Vua ban thưởng ''Thần chỉ xin kính lĩnh một kỳ để được vinh hạnh về của Vua ban cho mà tỏ rõ đạo Khuyến trung, Khuyến hiếu của Hoàng Thượng.. '' ''Xin chiếu theo chí của Thần, chuẩn cho đình, miễn ''.

Phụng sự ba đời Vua (Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị) ông Nguyễn Đăng Tuân thọ 73 tuổi. Sau khi mất, Triều đình truy tặng Ông danh hiệu là Thiếu Sư, tên thụy là Văn Chính, cho khắc thơ Vua tặng lên đá và dựng bia ở nơi làng quê đặt trong Nhà thờ thờ Ông. Mãi về sau dân vùng Phù Chánh khi truyền tụng về Ông, về quê hương mình đã có một bài ca:

Hậu làng Đại Hải Bạch Sơn
Tiền làng Đại Lộ thông thương trong ngoài
Giữa làng Tâm tượng bất sai
Thiên thu tùng Quốc nào ai dám bì...

Một đời làm quan đại triều, làm Sư bảo hết lòng phụng sự cho Vua cả trọng, dân kính nể như ông Nguyễn Đăng Tuân, quả là người sống xứng đáng làm đẹp cho dòng tộc, cho đất quê vạn đời sau thần tiếng.

Nguồn: Quảng Bình ẩn tích thời gian
Hội Di sản Văn hóa Việt Nam tỉnh Quảng Bình - 2008