VĂN BẢN MỚI

Thông tin tra cứu
    Bản in     Gởi bài viết  
Chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Bình 

CHÍNH SÁCH BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ VÀ TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH

MỤC 1: BỒI THƯỜNG VỀ ĐẤT VÀ CHÍ PHÍ ĐẦU TƯ VÀO ĐẤT CÒN LẠI

MỤC 2: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VỀ TÀI SẢN, VỀ SẢN XUẤT KINH DOANH

MỤC 3: CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ

MỤC 4: TÁI ĐỊNH CƯ


MỤC 1: BỒI THƯỜNG VỀ ĐẤT VÀ CHÍ PHÍ ĐẦU TƯ VÀO ĐẤT CÒN LẠI

Điều 3. Bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng

Việc bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại trong trường hợp không có hồ sơ, chứng từ chứng minh nhưng thực tế đã có đầu tư vào đất quy định tại Khoản 3, Điều 3, Nghị định 47/2014/NĐ-CP và Khoản 3, Điều 3, Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT được thực hiện theo quy định sau đây:

- Đối với chi phí san lấp mặt bằng, chi phí gia cố khả năng chịu lực chống rung, sụt lún đất đối với đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh: Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chủ trì, phối hợp các phòng có liên quan thuộc UBND cấp huyện tổ chức kiểm tra thực địa, tính toán khối lượng theo thực tế và căn cứ vào giá vật tư, vật liệu, biểu phí vận chuyển… do cơ quan có thẩm quyền công bố tại thời điểm quyết định thu hồi đất để xác định chi phí đầu tư vào đất còn lại trình cơ quan có thẩm quyền quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quyết định;

- Đối với chi phí cải tạo làm tăng độ màu mỡ của đất, thau chua rửa mặn, chống xói mòn, xâm thực đối với đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp: Được bồi thường bằng tiền, mức bồi thường bằng 20% giá đất cùng loại trong bảng giá đất tính theo diện tích đất thực tế thu hồi. Nhưng mức bồi thường không vượt quá 100.000.000 đồng/chủ sử dụng đất bị thu hồi.

- Đối với chi phí khác có liên quan đã đầu tư vào đất phù hợp với mục đích sử dụng đất: Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phối hợp chủ đầu tư xem xét thực tế báo cáo cơ quan có thẩm quyền quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quyết định bồi thường cho phù hợp.

Điều 4. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở

Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở quy định tại Điều 79, Luật Đất đai 2013 và Điều 6, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP được thực hiện theo quy định sau đây:

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai mà chưa được cấp thì việc bồi thường về đất được thực hiện như sau:

a) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở (nhỏ hơn diện tích đất ở tối thiểu được phép tách thửa do UBND tỉnh quy định hoặc được cơ quan có thẩm quyền cho phép thu hồi hết vì không bảo đảm an toàn để xây dựng nhà ở) mà hộ gia đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở bị thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư (bố trí tái định cư); trường hợp không có nhu cầu bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư thì được Nhà nước bồi thường bằng tiền. Việc bồi thường bằng nhà ở tái định cư chỉ áp dụng khi địa phương có quỹ nhà ở tái định cư, nhà ở xã hội.

b) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để ở (nhỏ hơn diện tích đất ở tối thiểu được phép tách thửa do UBND tỉnh quy định hoặc được cơ quan có thẩm quyền cho phép thu hồi hết vì không bảo đảm an toàn để xây dựng nhà ở) mà hộ gia đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở bị thu hồi thì chỉ được bồi thường bằng tiền, không thực hiện bố trí tái định cư. Nếu người bị thu hồi đất có nhu cầu bồi thường bằng đất ở và địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì mới được xem xét để bồi thường bằng đất ở.

c) Trường hợp thu hồi một phần diện tích đất ở, phần diện tích đất còn lại đủ điều kiện để ở (kể cả phần diện tích đất vườn, ao trong cùng thửa đất ở đủ điều kiện chuyển mục đích sang đất ở) thì chỉ được bồi thường bằng tiền, không bồi thường bằng đất ở. Nếu người bị thu hồi đất có nhu cầu bồi thường bằng đất ở và địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì mới được xem xét để bồi thường bằng đất ở.

2. Trường hợp hộ gia đình quy định tại Điểm a, Điểm b Khoản 1 Điều này mà trong hộ có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi (có xác nhận của UBND cấp xã nơi đang sinh sống), nếu đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở thu hồi mà tại thời điểm thu hồi đất có nhu cầu tách hộ thì được xem xét giao thêm đất ở, nhà ở tái định cư (đối với trường hợp quy định tại Điểm a Khoản 1), giao thêm đất ở (đối với trường hợp quy định tại Điểm b Khoản 1) ngoài diện tích đất ở, nhà ở tái định cư đã được bố trí, bồi thường nhưng phải nộp tiền sử dụng đất, tiền nhà ở tái định cư đối với diện tích đất ở, nhà ở giao thêm.

Tuỳ theo dự án và quỹ đất, quỹ nhà ở tái định cư của địa phương, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng đề xuất UBND cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quyết định diện tích đất ở, nhà ở tái định cư giao thêm phù hợp cho các trường hợp tách hộ. Diện tích đất ở giao thêm cho mỗi hộ được tách không vượt quá diện tích suất tái định cư tối thiểu quy định tại Điều 25 của Quy định này và đảm bảo ít nhất phải bằng diện tích đất ở tối thiểu được phép tách thửa do UBND tỉnh quy định.

3. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chổ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, nếu không có chổ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi và có nhu cầu mua, thuê nhà ở, giao đất để làm nhà ở thì được bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở hoặc giao đất ở có thu tiền sử dụng đất. Diện tích đất ở được giao không vượt quá diện tích suất tái định cư tối thiểu quy định tại Điều 25 của Quy định này và đảm bảo ít nhất phải bằng diện tích đất ở tối thiểu được phép tách thửa do UBND tỉnh quy định.

Giá bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở; giá đất ở tính tiền sử dụng đất khi Nhà nước giao đất là giá cụ thể do UBND tỉnh (hoặc cơ quan được ủy quyền) quyết định. UBND cấp huyện nơi có dự án có trách nhiệm bố trí quỹ đất để giao đất cho người phải di chuyển chỗ ở.

4. Trường hợp sau khi Nhà nước thu hồi mà diện tích đất ở còn lại nhỏ hơn hạn mức giao đất ở theo quy định của UBND tỉnh nhưng bằng hoặc lớn hơn diện tích đất ở tối thiểu được phép tách thửa trên địa bàn tỉnh và phù hợp quy hoạch, thì các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phải hướng dẫn hộ gia đình, cá nhân sử dụng theo quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị và quy hoạch điểm dân cư nông thôn. Trường hợp diện tích còn lại không phù hợp quy hoạch thì thu hồi toàn bộ diện tích đất và được bồi thường bằng đất ở hoặc bồi thường bằng tiền tùy theo quỹ đất ở của địa phương.

5. Trường hợp trong thửa đất ở thu hồi còn diện tích đất nông nghiệp không được công nhận là đất ở và không nằm trong hành lang của các công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn thì hộ gia đình, cá nhân có đất thu hồi được chuyển mục đích sử dụng đất đối với phần diện tích đất nông nghiệp đó sang đất ở trong hạn mức giao đất ở của tỉnh quy định, nếu hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu và việc chuyển mục đích sang đất ở phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.

Hộ gia đình, cá nhân khi chuyển mục đích sử dụng đất phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật về thu tiền sử dụng đất.

6. Trường hợp thu hồi toàn bộ thửa đất, trong đó có cả đất ở, đất vườn, ao trong cùng thửa đất ở mà người bị thu hồi đất đề nghị được bồi thường bằng đất hoặc bố trí tái định cư (nếu đủ điều kiện) có cả đất ở và đất vườn liền kề thì cũng được xem xét bồi thường, giao đất tái định cư thửa đất có cả đất ở và đất vườn tùy theo quỹ đất của địa phương. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng báo cáo UBND cấp huyện nơi có dự án để bố trí quỹ đất bồi thường, bố trí tái định cư.

Diện tích đất ở bồi thường, bố trí tái định cư trong trường hợp này không vượt quá hạn mức giao đất của tỉnh, diện tích đất vườn bồi thường không vượt quá 300m2, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này và trường hợp thửa đất thu hồi có diện tích đất ở lớn hơn nhiều so với hạn mức được giao thì được xem xét bồi thường, giao thêm tùy theo quỹ đất của địa phương.

7. Việc xác định lại diện tích đất ở để bồi thường trong trường hợp thửa đất có vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở, thực hiện theo Quyết định quy định về hạn mức giao đất, công nhận đất ở trên địa bàn tỉnh.

8. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại không đủ điều kiện để ở, nếu có nhu cầu được bồi thường đất ở tại khu vực dự án tạo quỹ đất ở đó thì được xem xét bồi thường đất ở tại chỗ (tại khu vực dự án tạo quỹ đất ở đó).

Điều 5. Bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp không phải là đất ở của hộ gia đình, cá nhân

Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất phi nông nghiệp không phải là đất ở của hộ gia đình, cá nhân tại Điều 80 Luật Đất đai 2013, Khoản 3, Khoản 5 Điều 7 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP được thực hiện theo quy định sau đây:

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất phi nông nghiệp không phải là đất ở được Nhà nước cho thuê đất thu tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất do thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng thì được bồi thường về đất.

Trường hợp địa phương có quỹ đất có cùng mục đích với đất thu hồi thì UBND cấp huyện quyết định phương án bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng cho người có đất bị thu hồi và thời hạn sử dụng đất đúng bằng thời hạn còn lại của đất thu hồi. Trường hợp người được bồi thường có nhu cầu sử dụng với thời hạn dài hơn thời hạn sử dụng còn lại của đất thu hồi thì được xem xét tăng thời hạn sử dụng nhưng phải thực hiện nghĩa vụ tài chính trong thời gian được tăng.

Trường hợp địa phương không có quỹ đất cùng mục đích để bồi thường bằng đất thì thực hiện bồi thường bằng tiền. Cách tính tiền bồi thường được áp dụng như trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 7 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà có nguồn gốc do lấn, chiếm, khi Nhà nước thu hồi đất nếu không có chỗ ở nào khác thì được giao đất ở mới có thu tiền sử dụng đất hoặc bán nhà ở tái định cư. Giá đất ở tính thu tiền sử dụng đất, giá bán nhà ở tái định cư là giá cụ thể do UBND tỉnh (hoặc cơ quan được ủy quyền) quyết định.

Điều 6. Bồi thường, hỗ trợ thiệt hại do hạn chế khả năng sử dụng đất đối với đất thuộc hành lang an toàn khi xây dựng công trình có hành lang bảo vệ

1. Trường hợp làm thay đổi mục đích sử dụng đất thì thực hiện bồi thường theo quy định tại Khoản 1, Điều 10, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP.

2. Trường hợp không làm thay đổi mục đích sử dụng đất nhưng làm hạn chế khả năng sử dụng đất theo Khoản 2, Điều 10, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP thì việc xác định mức bồi thường, hỗ trợ thiệt hại quy định như sau:

a) Đối với dự án xây dựng công trình có hành lang bảo vệ an toàn (không phải lưới điện cao áp) thuộc trường hợp không làm thay đổi mục đích sử dụng đất (nhà ở, công trình đủ điều kiện tồn tại trong hành lang an toàn của công trình) nhưng làm hạn chế khả năng sử dụng đất và đất đủ điều kiện bồi thường nhưng Nhà nước không thu hồi đất thì được bồi thường hạn chế khả năng sử dụng. Mức bồi thường bằng 70% mức bồi thường thu hồi các loại đất theo mục đích sử dụng đối với đất ở, đất thương mại, dịch vụ, đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp và bằng 40% mức bồi thường đối với các loại đất khác. Diện tích được bồi thường hạn chế khả năng sử dụng tính trên diện tích đất nằm trong hành lang an toàn. Việc bồi thường được thực hiện một lần.

b) Đất ở, các loại đất khác trong cùng thửa với đất ở của một chủ sử dụng, đất rừng trồng sản xuất, đất trồng cây lâu năm đủ điều kiện được bồi thường về đất theo quy định nằm trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không điện áp đến 220kV thuộc diện Nhà nước không thu hồi đất thì chủ sử dụng đất được bồi thường, hỗ trợ do hạn chế khả năng sử dụng đất. Việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện một lần như sau:

- Diện tích đất ở được bồi thường do hạn chế khả năng sử dụng là diện tích đất ở thực tế trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không. Mức bồi thường bằng 80% mức bồi thường thu hồi đất ở, tính trên diện tích đất nằm trong hành lang;

- Trên cùng một thửa đất, bao gồm đất ở (được công nhận đất ở) và các loại đất khác của cùng một chủ sử dụng đất, khi bị hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không chiếm dụng khoảng không lớn hơn hạn mức đất ở thì phần diện tích các loại đất khác trên cùng thửa đất trong hành lang cũng được bồi thường. Mức bồi thường bằng 80% mức bồi thường thu hồi các loại đất khác đó tính trên diện tích các loại đất khác nằm trong hành lang;

- Trường hợp thửa đất có nhà ở, công trình sinh hoạt gắn với nhà ở, nhưng không được công nhận là đất ở thì diện tích đất xây dựng nhà ở, công trình đó nằm trong hành lang được xem xét hỗ trợ bằng 50% mức bồi thường thu hồi đất ở. Các loại đất khác cùng thửa đất có nhà ở nằm trong hành lang được hỗ trợ bằng 30% mức bồi thường thu hồi các loại đất khác đó;

- Diện tích đất rừng trồng sản xuất, đất trồng cây lâu năm nằm trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không thì chủ sử dụng đất được hỗ trợ do hạn chế khả năng sử dụng. Mức hỗ trợ bằng 30% mức bồi thường giá đất cùng loại trong bảng giá đất, tính trên diện tích đất nằm trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không.

3. Khi hành lang bảo vệ an toàn công trình chiếm dụng khoảng không trên 70%  diện tích thửa đất có nhà ở, công trình xây dựng thì phần diện tích đất còn lại cũng được bồi thường theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này.

4. Trường hợp khi giải phóng mặt bằng xây dựng các công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn mà đất đã có nhà ở, công trình xây dựng nằm ngoài phạm vi giải phóng mặt bằng nhưng nếu tồn tại, không giải toả, khi công trình đưa vào hoạt động sẽ gây nguy hiểm không đảm bảo an toàn, sinh hoạt của người dân thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phối hợp với chủ đầu tư báo cáo UBND cấp huyện lấy ý kiến Sở Xây dựng, Sở quản lý chuyên ngành công trình có hành lang đề xuất UBND tỉnh xem xét cho chủ trương để thu hồi và bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư cho người dân như những trường hợp phải thu hồi đất để giải phóng mặt bằng.

5. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở nằm trong hành lang an toàn khi xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn phải di chuyển chỗ ở mà không có nhà ở, đất ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất trong hành lang an toàn thì được bố trí tái định cư; được bồi thường chi phí di chuyển, và được hỗ trợ ổn định đời sống, sản xuất.

Điều 7. Bồi thường về đất đối với những người đang đồng quyền sử dụng đất

Bồi thường về đất đối với những người đang đồng quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 15 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP được thực hiện như sau:

1. Trường hợp có giấy tờ xác định được diện tích của từng đối tượng đang sử dụng đất, thì phương án bồi thường được lập, phê duyệt, chi trả tiền bồi thường cho từng đối tượng.

2. Trường hợp không có giấy tờ xác định diện tích đất thuộc quyền sử dụng riêng của các đối tượng đang sử dụng đất thì lập, phê duyệt phương án bồi thường chung cho các đối tượng đồng quyền sử dụng đất. Việc phân chia tiền bồi thường về đất cho các đối tượng đồng quyền sử dụng đất được xác định trên cơ sở Văn bản thỏa thuận của các đối tượng sử dụng đất được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất hoặc Tổ chức hành nghề công chứng xác nhận theo quy định của pháp luật; nếu hết thời hạn chi trả mà các đối tượng đồng quyền sử dụng đất không thỏa thuận được thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng gửi tiền bồi thường về đất của các đối tượng vào tài khoản tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước và thông báo cho các đối tượng được biết. Khi có thỏa thuận phân chia hoặc Tòa án có Quyết định giải quyết thì trả theo thỏa thuận hoặc Quyết định của Tòa án.

Điều 8. Bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với các trường hợp thu hồi đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người; đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người

1. Việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người; đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người quy định tại Khoản 3, Điều 87 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy định tại Khoản 1, Điều 79 của Luật Đất đai, Điều 6 và Điều 22 của Nghị định số 47/2014/NĐ-CP và Điều 4, Điều 20 của Quy định này.

2. Đối với trường hợp đất ở của hộ gia đình, cá nhân bị sạt lở, sụt lún bất ngờ toàn bộ diện tích thửa đất hoặc một phần diện tích thửa đất mà phần còn lại không còn khả năng tiếp tục sử dụng thì hộ gia đình, cá nhân được bố trí đất ở tái định cư theo Quy định này, diện tích bố trí tái định cư không vượt quá hạn mức giao đất ở tại địa phương. Việc nộp tiền sử dụng đất, miễn giảm tiền sử dụng đất và các ưu đãi khác thực hiện theo quy định của Nghị định về thu tiền sử dụng đất.

3. Tiền bồi thường, hỗ trợ đối với diện tích đất thu hồi để bố trí tái định cư được giải quyết như sau:

a) Ngân sách nhà nước chi trả 100% trong trường hợp thu hồi đất ở do thiên tai gây ra;

b) Doanh nghiệp chi trả 100% trong trường hợp thu hồi đất ở trong khu vực bị ô nhiễm môi trường có nguy cơ đe dọa tính mạng con người do doanh nghiệp đó gây ra; trường hợp doanh nghiệp đã giải thể, phá sản thì tiền bồi thường, hỗ trợ do ngân sách nhà nước chi trả.

Điều 9. Bồi thường, hỗ trợ đối với phần diện tích đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở còn lại sau thu hồi không đủ điều kiện để tiếp tục sử dụng

Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp không phải là đất ở khi Nhà nước thu hồi đất mà phần diện tích đất còn lại của thửa đất sau thu hồi nhỏ hơn diện tích tối thiểu được phép tách thửa theo quy định của UBND tỉnh hoặc diện tích còn lại không đủ điều kiện để tiếp tục sử dụng, nếu người sử dụng đất có đơn đề nghị thu hồi đất thì UBND cấp huyện xem xét, quyết định thu hồi đất. Đối với diện tích đất nông nghiệp, UBND cấp huyện giao cơ quan nông nghiệp kiểm tra, xác định trước khi quyết định. Trong trường hợp thu hồi đất thì thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ theo quy định của pháp luật và được thể hiện trong phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

 

MỤC 2: BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI VỀ TÀI SẢN, VỀ SẢN XUẤT KINH DOANH

Điều 10. Đơn giá bồi thường tài sản

1. Đơn giá bồi thường tài sản thực hiện theo quyết định của UBND tỉnh ban hành tại thời điểm quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

2. Đối với các loại tài sản chưa có danh mục trong bộ đơn giá quy định của UBND tỉnh thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng xác định loại tài sản cụ thể và căn cứ vào Công bố giá gốc vật liệu xây dựng hàng tháng của Liên Sở Xây dựng - Tài chính tại thời điểm quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Điều 11. Bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất

Bồi thường thiệt hại về nhà, công trình xây dựng khác gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Điều 89 Luật Đất đai 2013 và Điều 9 của Nghị định số 47/2014/NĐ-CP được thực hiện như sau:

1. Đối với nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt gắn liền với đất của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi Nhà nước thu hồi đất phải tháo dỡ toàn bộ hoặc một phần mà phần còn lại không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật về xây dựng thì chủ sở hữu nhà ở, công trình đó được bồi thường toàn bộ nhà, công trình bằng giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương.

- Trường hợp phần còn lại của nhà ở, công trình vẫn bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật về xây dựng thì bồi thường theo thiệt hại thực tế và được phép bồi thường bổ sung, chi phí để sửa chữa, hoàn thiện phần còn lại như sau:

+ Đối với nhà khung bê tông cốt thép hoặc kết cấu khung thép thì diện tích xây dựng được bồi thường bổ sung tính từ phạm vi thiệt hại thực tế đến khung kết cấu chịu lực gần nhất;

+ Đối với nhà kết cấu xây gạch chịu lực, không ảnh hưởng tới an toàn của căn nhà thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng xem xét thực tế, xác định diện tích xây dựng được bồi thường bổ sung báo cáo UBND cấp huyện quyết định.

+ Bồi thường chi phí để sửa chữa, hoàn thiện phần còn lại theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương của nhà ở, công trình trước khi bị phá dỡ.

- Giá trị xây dựng mới của nhà ở, công trình được tính theo diện tích xây dựng của nhà ở, công trình nhân với đơn giá xây dựng mới của nhà ở, công trình do UBND tỉnh quy định.

- UBND cấp huyện có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với chủ đầu tư, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng xem xét phần còn lại của nhà ở, công trình có đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật hay không để quyết định bồi thường toàn bộ nhà ở, công trình hoặc cho phép tồn tại, sử dụng. Trường hợp cần thiết UBND cấp huyện mời Trung tâm kiểm định chất lượng công trình xây dựng của Sở Xây dựng để kiểm tra quyết định. Trường hợp phần còn lại của nhà ở, công trình được tồn tại thì chủ đầu tư có trách nhiệm mua bảo hiểm công trình trong quá trình thi công.

2. Đối với nhà, công trình xây dựng khác không thuộc quy định tại khoản 1 Điều này được bồi thường theo giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại như sau:

Mức bồi thường đối với nhà, công trình xây dựng hợp pháp khác gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi theo Khoản 1, Điều 9 Nghị định 47/2014/NĐ-CP được quy định như sau:

Mức bồi thường nhà, công trình

=

Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại

+

Khoản tiền tính   bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình

Khoản tiền tính bằng tỷ lệ phần trăm theo giá trị hiện có của nhà, công trình do tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chủ trì phối hợp với chủ đầu tư đánh giá thực tế để xác định, lập phương án báo cáo Hội đồng thẩm định xem xét trình cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư quyết định, nhưng mức bồi thường không quá 100% giá trị xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương với nhà, công trình bị thiệt hại.

- Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại được xác định bằng công thức:

Tgt = G1 - G1/TxT1

Trong đó:

Tgt: Giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại;

G1: Giá trị xây mới nhà, công trình bị thiệt hại có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do Bộ quản lý chuyên ngành ban hành;

T: Thời gian khấu hao áp dụng đối với nhà, công trình bị thiệt hại;

T1: Thời gian mà nhà, công trình bị thiệt hại đã qua sử dụng.

Trong đó: Thời gian sử dụng (T1) dựa trên thời gian cấp giấy phép xây dựng hoặc người dân tự kê khai có xác nhận của UBND cấp xã.

- Thời gian khấu hao (T) áp dụng làm căn cứ xác định giá trị hiện có của nhà, công trình bị thiệt hại theo quy định của văn bản quy phạm pháp luật hiện hành tại thời điểm lập phương án bồi thường.

- Nhà tạm, công trình xây dựng của hộ gia đình, cá nhân phục vụ sản xuất nông nghiệp trên đất nông nghiệp, kể cả trên đất nông nghiệp tạm giao, cho thuê, đấu thầu thì được tính theo đơn giá xây dựng mới tại thời điểm lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

3. Đối với công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội gắn liền với đất đang sử dụng không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này thì mức bồi thường tính bằng giá trị xây dựng mới của công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng lập dự toán chi phí hoặc thuê đơn vị tư vấn lập dự toán chi phí trình UBND cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án quyết định, UBND cấp có thẩm quyền giao cơ quan quản lý chuyên ngành trực thuộc thẩm định trước khi phê duyệt phương án bồi thường.

4. Đối với nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần mà phần còn lại không còn sử dụng được do không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật thì bồi thường cho toàn bộ nhà, công trình; trường hợp nhà, công trình xây dựng khác bị phá dỡ một phần, nhưng vẫn tồn tại và sử dụng được phần còn lại thì được bồi thường phần giá trị công trình bị phá dỡ và chi phí để sửa chữa, hoàn thiện phần còn lại theo tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương của nhà, công trình trước khi bị phá dỡ theo quy định tại Khoản 1 Điều này.

5. Đối với nhà, công trình xây dựng không đủ tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của Bộ quản lý chuyên ngành ban hành thì tùy theo nhà, công trình, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng căn cứ hướng dẫn tại Quyết định quy định Bảng giá các loại nhà, công trình xây dựng của UBND tỉnh để bổ sung thêm hoặc cắt giảm các chi tiết, kết cấu, hạng mục và áp dụng hệ số điều chỉnh để tính giá công trình tương đương. Trường hợp không thể áp dụng công trình tương đương thì thực hiện theo Khoản 2, Điều 10, Quy định này.

6. Đối với các công trình văn hóa, di tích lịch sử, nhà thờ họ, đình chùa, am, miếu, từ đường; chùa, nhà thờ, nhà nguyện, thánh thất, thánh đường, niệm phật đường, tu viện của cơ sở tôn giáo, trong trường hợp phải di chuyển thì được bồi thường theo dự toán xây dựng mới đối với công trình tương đương được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Điều 12. Bồi thường thiệt hại đối với nhà ở, công trình xây dựng khác và các tài sản khác gắn liền với đất trong phạm vi hành lang an toàn khi xây dựng công trình có hành lang bảo vệ

Bồi thường thiệt hại đối với nhà ở, công trình xây dựng khác và các tài sản khác gắn liền với đất trong phạm vi hành lang an toàn theo quy định tại Điều 10 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP và Điều 18 Nghị định số 14/2014/NĐ-CP được thực hiện như sau:

1. Nhà ở, công trình xây dựng khác và các tài sản khác gắn liền với đất nằm trong phạm vi hành lang an toàn bị thiệt hại do phải giải tỏa thì được bồi thường  mức thiệt hại theo quy định.

Trường hợp không giải tỏa, được tồn tại trong hành lang thì được phép cải tạo, sửa chữa nhưng phải bảo đảm không ảnh hưởng đến an toàn công trình có hành lang. Trước khi cải tạo, sửa chữa phải có ý kiến của cơ quan có thẩm quyền cấp phép xây dựng, quản lý công trình.

2. Nhà ở, công trình phụ phục vụ sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân không phải di dời khỏi hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không có điện áp đến 220 kV đảm bảo điều kiện tồn tại theo quy định tại Điều 13 Nghị định số 14/2014/NĐ-CP thì chủ sở hữu nhà ở, công trình phụ phục vụ sinh hoạt được bồi thường, hỗ trợ do hạn chế khả năng sử dụng và ảnh hưởng trong sinh hoạt. Việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện một (01) lần như sau:

a) Nhà ở, công trình phụ phục vụ sinh hoạt có một phần hoặc toàn bộ diện tích nằm trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không, được xây dựng trên đất đủ điều kiện bồi thường về đất theo quy định của pháp luật về đất đai trước ngày thông báo thực hiện dự án (thông báo thu hồi đất) công trình lưới điện cao áp được cấp có thẩm quyền phê duyệt, thì được bồi thường, hỗ trợ phần diện tích trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không. Mức bồi thường bằng 70% giá trị phần nhà ở, công trình phụ phục vụ sinh hoạt tính trên diện tích nằm trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không, theo đơn giá xây dựng mới của nhà ở, công trình phụ phục vụ sinh hoạt có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do UBND tỉnh quy định.

b) Trường hợp nhà ở, công trình phụ phục vụ sinh hoạt được xây dựng trên đất không đủ điều kiện bồi thường về đất theo quy định của pháp luật về đất đai trước ngày thông báo thực hiện dự án (thông báo thu hồi đất) công trình lưới điện cao áp được cấp có thẩm quyền phê duyệt thì được xem xét hỗ trợ. Mức hỗ trợ bằng 50% giá trị phần nhà ở, công trình phụ phục vụ sinh hoạt tính trên diện tích nằm trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không, theo đơn giá xây dựng mới của nhà ở, công trình phụ phục vụ sinh hoạt có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương do UBND tỉnh quy định.

3. Nhà ở, công trình được xây dựng trước ngày thông báo thực hiện dự án (thông báo thu hồi đất) công trình lưới điện cao áp được cấp có thẩm quyền phê duyệt nhưng có một phần hoặc toàn bộ nhà, công trình chưa đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 13, Nghị định số 14/2014/NĐ-CP thì được xử lý như sau:

a) Nếu chưa đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 13, Nghị định số 14/2014/NĐ-CP thì chủ đầu tư công trình lưới điện cao áp phải chịu kinh phí và tổ chức thực hiện việc cải tạo nhằm đáp ứng các điều kiện đó;

b) Trường hợp phá dỡ một phần, phần còn lại vẫn bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của pháp luật về xây dựng và đáp ứng được các điều kiện quy định tại Điều 13, Nghị định số 14/2014/NĐ-CP thì chủ đầu tư lưới điện cao áp có trách nhiệm: Chi trả, bồi thường phần giá trị nhà, công trình bị phá dỡ và chi phí cải tạo hoàn thiện lại nhà, công trình theo tiêu chuẩn tương đương của nhà, công trình trước khi bị phá dỡ;

c) Trường hợp nhà ở, công trình không thể cải tạo được để đáp ứng điều kiện quy định tại Điều 13, Nghị định số 14/2014/NĐ-CP, mà phải dỡ bỏ hoặc di dời, thì chủ sở hữu nhà ở, công trình được bồi thường theo quy định.

Điều 13. Bồi thường nhà, công trình đối với người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước

Bồi thường nhà, công trình đối với người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước theo quy định tại Điều 14, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP được thực hiện như sau:

Người đang sử dụng nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước (nhà thuê hoặc nhà do tổ chức tự quản) nằm trong phạm vi thu hồi đất phải phá dỡ, thì người đang thuê nhà không được bồi thường đối với diện tích nhà ở thuộc sở hữu Nhà nước và diện tích cơi nới trái phép, nhưng được bồi thường chi phí tự cải tạo, sửa chữa, nâng cấp theo đơn giá xây dựng mới do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng lập dự toán các hạng mục cải tạo, sửa chữa, nâng cấp, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quyết định để bồi thường.

Điều 14. Bồi thường chi phí di chuyển khi Nhà nước thu hồi đất

Bồi thường chi phí di chuyển khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Điều 91 Luật Đất đai 2013 được thực hiện như sau:

1. Đối với hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà phải di chuyển chỗ ở khi Nhà nước thu hồi đất thì được bồi thường chi phí di chuyển. Mức bồi thường theo quy định của UBND tỉnh.

2. Tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất hoặc đang sử dụng đất hợp pháp khi Nhà nước thu hồi mà phải di chuyển cơ sở sản xuất, kinh doanh thì được bồi thường kinh phí để tháo dỡ, di chuyển, lắp đặt và thiệt hại khi tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất. Mức bồi thường căn cứ vào khối lượng, quãng đường, giá cước vận chuyển và tính chất của từng loại thiết bị, máy móc, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng lập dự toán chi phí và trình phê duyệt trong phương án bồi thường; trường hợp tài sản, dây chuyền, thiết bị máy móc... có tính chất phức tạp, đặc thù thì Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng được thuê đơn vị tư vấn lập dự toán chi phí, trình UBND cấp có thẩm quyền phê duyệt phương án quyết định, UBND cấp có thẩm quyền giao cơ quan quản lý chuyên ngành trực thuộc thẩm định trước khi phê duyệt phương án bồi thường.

Điều 15. Bồi thường di chuyển mồ mả quy định tại Điều 18 Nghị định 47/2014/NĐ-CP

1. Đối với việc di chuyển mồ mả không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1, Điều 8, Nghị định 47/2014/NĐ-CP thì người có mồ mả phải di chuyển được bố trí đất và được bồi thường chi phí đào, bốc, di chuyển, xây dựng mới và các chi phí hợp lý khác có liên quan trực tiếp theo quy định của UBND tỉnh.

2. Đối với lăng, mộ xây cầu kỳ, có tính kỹ thuật, mỹ thuật cao thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng chủ trì phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan căn cứ vào khối lượng, tính chất kỹ thuật, mỹ thuật để lập dự toán xác định mức bồi thường cho phù hợp với thực tế trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư quyết định.

3. Đối với những khu lăng mộ tập trung trong cùng một khuôn viên nhưng chỉ giải phóng mặt bằng một phần mà hộ gia đình, cá nhân có nguyện vọng di chuyển toàn bộ thì được xem xét cho di chuyển và bồi thường toàn bộ khu lăng, mộ đó. Mức bồi thường di chuyển trong trường hợp này thực hiện theo quy định hiện hành của UBND tỉnh.

4. Đối với các địa phương không có quỹ đất nghĩa địa để bố trí khi di chuyển mồ mả thì tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường giải phóng mặt bằng báo cáo UBND cấp huyện nơi có dự án để chỉ đạo địa phương có quỹ đất có phương án bố trí quỹ đất nghĩa địa; trường hợp địa phương không thể bố trí được mà người dân phải tự lo đất nghĩa địa khi phải di chuyển mồ mả thì ngoài được bồi thường di chuyển còn được hỗ trợ thêm 5.000.000 đồng/mộ.

Đối với các mồ mả không có thân nhân thì tiền bồi thường được giao cho UBND cấp xã nơi có đất bị thu hồi để chi phí di chuyển đến nơi cải táng mới trong vùng quy hoạch nghĩa địa. Việc di dời mồ mả phải có biên bản xác nhận giữa chủ đầu tư, tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng và UBND cấp xã.

Điều 16. Bồi thường đối với cây trồng, vật nuôi

Về chính sách bồi thường theo quy định tại Điều 90 Luật Đất đai 2013; Điều 23, Nghị định số 14/2014/NĐ-CP được thực hiện như sau:

1. Đối với cây trong và ngoài hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không thực hiện theo quy định tại Điều 23 của Nghị định số 14/2014/NĐ-CP. Mức bồi thường bằng 100% đơn giá theo quy định của UBND tỉnh tại thời điểm phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

2. Đối với cây trồng, vật nuôi là thủy sản mà tại thời điểm thu hồi đất chưa đến thời kỳ thu hoạch nhưng có thể di chuyển được thì được bồi thường chi phí di chuyển và thiệt hại do di chuyển gây ra. Mức bồi thường căn cứ vào khối lượng, quảng đường, giá cước vận chuyển, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng lập dự toán chi phí và trình phê duyệt trong phương án bồi thường;

3. Đối với vật nuôi là thủy sản mà tại thời điểm thu hồi đất chưa đến thời kỳ thu hoạch nhưng không thể di chuyển được thì được bồi thường thiệt hại thực tế do phải thu hoạch sớm. Mức bồi thường cụ thể theo đơn giá do UBND tỉnh quy định.

 

MỤC 3: CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ

Điều 17. Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất khi Nhà nước thu hồi đất

Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Điều 83, Luật Đất đai 2013; Điều 19 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo Khoản 5 Điều 4 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP) thực hiện như sau:

1. Việc hỗ trợ ổn định đời sống cho các đối tượng quy định tại Điểm a, b, c, d, đ và e Khoản 1 Điều 19 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP (đã được sửa đổi theo Khoản 5 Điều 4 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP):

a) Thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian 6 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ là 24 tháng;

Trường hợp thu hồi trên 70% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ ổn định đời sống trong thời gian 12 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong thời gian 24 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ là 36 tháng;

b) Mức hỗ trợ cho một nhân khẩu quy định tại Điểm a, Khoản này được tính bằng tiền tương đương 30 kg gạo trong 01 tháng theo thời giá trung bình tại thời điểm hỗ trợ của địa phương.

c) Diện tích đất nông nghiệp thu hồi để tính hỗ trợ ổn định đời sống quy định tại Điểm a, Khoản này được xác định theo quy định tại Khoản 2 Điều 5 Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT (đã được sửa đổi, bổ sung theo Khoản 1 Điều 11 Thông tư 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017) của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

2. Hỗ trợ ổn định sản xuất được thực hiện như sau:

a) Hộ gia đình, cá nhân được bồi thường bằng đất nông nghiệp thì được hỗ trợ ổn định sản xuất, bao gồm: Hỗ trợ giống cây trồng, giống vật nuôi cho sản xuất nông nghiệp, các dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, dịch vụ bảo vệ thực vật, thú y, kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi và kỹ thuật nghiệp vụ đối với sản xuất, kinh doanh dịch vụ công thương nghiệp. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng căn cứ định mức quy định, lập dự toán các chi phí theo mục đích sản xuất trên diện tích đất nông nghiệp được bồi thường để hỗ trợ.

b) Đối với tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại điểm g Khoản 1 Điều 19 của Nghị định số 47/2014/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo Khoản 5 Điều 4 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP) có đăng ký kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất mà bị ngừng sản xuất, kinh doanh thì được hỗ trợ ổn định sản xuất bằng tiền, mức hỗ trợ bằng 30% một năm thu nhập sau thuế, theo mức thu nhập bình quân của 03 năm liền kề trước đó.

Thu nhập sau thuế được xác định căn cứ vào báo cáo tài chính đã được kiểm toán hoặc được cơ quan thuế chấp thuận; trường hợp chưa được kiểm toán hoặc chưa được cơ quan thuế chấp thuận thì việc xác định thu nhập sau thuế được căn cứ vào thu nhập sau thuế do đơn vị kê khai tại báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cuối mỗi năm đã gửi cơ quan thuế. Đối với các trường hợp đăng ký nộp thuế khoán thì cơ quan thuế căn cứ mức khoán thuế để xác nhận các khoản thu nhập sau thuế 3 năm liền kề theo các quy định hiện hành của từng ngành nghề kinh doanh để làm cơ sở xác định mức hỗ trợ.

Người lao động do tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thuộc đối tượng quy định tại Điểm này thuê lao động theo hợp đồng lao động thì được áp dụng hỗ trợ chế độ trợ cấp ngừng việc theo quy định của pháp luật về lao động, thời gian trợ cấp 06 tháng. Hợp đồng lao động được tính hỗ trợ là hợp đồng được ký trước ngày có thông báo thu hồi đất của cơ quan có thẩm quyền.

Trường hợp hộ gia đình, cá nhân sản xuất, kinh doanh tự phát không có đăng ký kinh doanh nhưng có đóng thuế môn bài mà được UBND cấp xã nơi có đất bị thu hồi xác nhận hộ gia đình, cá nhân đó chỉ có nguồn thu nhập ổn định từ việc sản xuất, kinh doanh trên khu đất bị thu hồi, khi Nhà nước thu hồi đất mà bị ngừng sản xuất, kinh doanh thì được xem xét hỗ trợ ổn định sản xuất bằng tiền mặt bằng 20% một năm thu nhập từ việc sản xuất, kinh doanh trên khu đất bị thu hồi. Nhưng tiền hỗ trợ không vượt quá mức hỗ trợ cho từng vùng quy định tại Khoản 1, Điều 19 Quy định này và không áp dụng hỗ trợ chế độ trợ cấp ngừng việc cho người lao động được thuê. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng phối hợp với UBND cấp xã và chủ đầu tư điều tra thu nhập bình quân để xác định tiền hỗ trợ.

Đối tượng được hỗ trợ ngừng sản xuất, kinh doanh phải là các trường hợp bị thu hồi đất và phải tháo dỡ, di chuyển, cải tạo, xây dựng lại cơ sở sản xuất kinh doanh hoặc quá trình thi công công trình dẫn đến bị ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh.

3. Đối với các hộ gia đình đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) quy định tại các Điểm d, đ, e Khoản 1 Điều 19 của Nghị định số 47/2014/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo Khoản 5 Điều 4 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP) mà có hợp đồng giao khoán sử dụng đất thì được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất theo hình thức bằng tiền. Tiền hỗ trợ được tính theo quy định tại Khoản 1 Điều này đối với trường hợp diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng bị thu hồi từ 30% trở lên; trường hợp diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng bị thu hồi dưới 30% thì áp dụng theo Khoản 11 Điều 23 Quy định này.

4. Hộ gia đình vừa có nhân khẩu là cán bộ, công chức, viên chức (đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp) vừa có nhân khẩu không phải là cán bộ, công chức, viên chức nhưng đang sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích sản xuất nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình đó thì nhân khẩu không phải là cán bộ, công chức, viên chức được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất. Tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi, thời gian hỗ trợ, mức hỗ trợ thực hiện theo Khoản 1 Điều này và Khoản 11 Điều 23 Quy định này.

Điều 18. Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp

Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm theo quy định tại Điều 83 Luật Đất đai 2013; Điều 20 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo Khoản 6 Điều 4 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP) được thực hiện như sau:

1. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp quy định tại các Điểm a, b và c Khoản 1 Điều 19 của Nghị định số 47/2014/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo Khoản 5 Điều 4 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP) khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà được bồi thường bằng tiền; hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất quy định tại các Điểm d, đ và e Khoản 1 Điều 19 của Nghị định số 47/2014/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo Khoản 5 Điều 4 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP) (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh, của công ty nông, lâm nghiệp được chuyển đổi từ các nông, lâm trường quốc doanh đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp) khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp thì được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm; diện tích được hỗ trợ là toàn bộ diện tích thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương. Mức hỗ trợ như sau:

a) Đối với hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp quy định tại các Điểm a, b và c Khoản 1 Điều 19 của Nghị định số 47/2014/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo Khoản 5 Điều 4 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP) thì mức hỗ trợ bằng 05 lần giá đất nông nghiệp cùng loại trong bảng giá đất của UBND tỉnh ban hành.

b) Đối với hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp quy định tại các Điểm d, đ và e Khoản 1 Điều 19 của Nghị định số 47/2014/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo Khoản 5 Điều 4 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP) (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm trường quốc doanh, của công ty nông, lâm nghiệp được chuyển đổi từ các nông, lâm trường quốc doanh đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp) mà thuộc đối tượng được hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm theo quy định tại Khoản 1 Điều 20 của Nghị định số 47/2014/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo Khoản 6 Điều 4 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP) thì mức hỗ trợ bằng 0,5 lần giá đất nông nghiệp cùng loại trong bảng giá đất của UBND tỉnh ban hành.

2. Trường hợp người được hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm trong độ tuổi lao động có nhu cầu được đào tạo nghề, giải quyết việc làm thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề; được tư vấn hỗ trợ tìm kiếm việc làm, vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh.

UBND cấp huyện có trách nhiệm chỉ đạo tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng, các phòng, ban có liên quan và UBND cấp xã tổng hợp nhu cầu, lập phương án đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho người trong độ tuổi lao động tại địa phương trình UBND cấp huyện phê duyệt.

Phương án đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm được lập và phê duyệt đồng thời với phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Trong quá trình lập phương án đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm phải lấy ý kiến của người bị thu hồi đất. Việc lấy ý kiến được thực hiện đồng thời khi lấy ý kiến về phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Chính sách hỗ trợ giải quyết việc làm và đào tạo nghề được áp dụng theo Quyết định số 63/2015/QĐ-TTg ngày 10/12/2015 của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản có liên quan.

Trên cơ sở cơ chế, chính sách của Trung ương, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội hướng dẫn cụ thể việc áp dụng các chính sách giải quyết việc làm và đào tạo nghề, ưu đãi vay vốn tín dụng cho người thu hồi đất nông nghiệp trong trường hợp này để áp dụng thống nhất trong toàn tỉnh.

3. Hộ gia đình vừa có nhân khẩu là cán bộ, công chức, viên chức (đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp) vừa có nhân khẩu không phải là cán bộ, công chức, viên chức nhưng đang sử dụng đất nông nghiệp vào mục đích sản xuất nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình đó thì được hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm bằng tiền, mức hỗ trợ bằng 05 lần giá đất nông nghiệp cùng loại trong bảng giá đất của địa phương. Diện tích được hỗ trợ là toàn bộ diện tích thu hồi nhưng không vượt quá hạn mức giao đất nông nghiệp tại địa phương.

Nhân khẩu được hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm trong độ tuổi lao động có nhu cầu được đào tạo nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề; được tư vấn hỗ trợ tìm kiếm việc làm, vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh theo quy định tại Khoản 2 Điều này.

Điều 19. Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh, dịch vụ của hộ gia đình, cá nhân mà phải di chuyển chỗ ở

Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm theo quy định tại Điều 83 Luật Đất đai 2013, Điều 21 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP được thực hiện như sau:

1. Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh, dịch vụ có nguồn thu nhập chính là từ hoạt động kinh doanh dịch vụ, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm. Mức hỗ trợ quy định như sau:

- Hỗ trợ 30.000.000 đồng/hộ đối với các xã khu vực miền núi, khu vực đồng bằng, các phường thuộc thị xã Ba Đồn (trừ phường Ba Đồn);

- Hỗ trợ 40.000.000 đồng/hộ đối với phường Ba Đồn, các thị trấn thuộc các huyện, các xã thuộc thành phố Đồng Hới;

- Hỗ trợ 50.000.000 đồng/hộ đối với các phường thuộc thành phố Đồng Hới.

UBND cấp xã nơi có đất thu hồi chủ trì, phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng xác nhận cụ thể về thời điểm kinh doanh, dịch vụ; các trường hợp có nguồn thu nhập chính là từ hoạt động kinh doanh, dịch vụ; nhân khẩu trong độ tuổi lao động có nhu cầu học nghề.

2. Trường hợp đối tượng được hỗ trợ chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm còn trong độ tuổi lao động có nhu cầu thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề; được tư vấn hỗ trợ tìm kiếm việc làm, vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh.

Việc lập, thẩm định, phê duyệt phương án đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm thực hiện theo quy định tại Khoản 2, Điều 18 Quy định này.

3. Việc hỗ trợ theo Khoản 1, Khoản 2 Điều này chỉ được áp dụng đối với các trường hợp đã kinh doanh, dịch vụ ổn định trước thời điểm thông báo chủ trương thu hồi đất và có đăng ký kinh doanh hoặc đóng thuế muôn bài.

Điều 20. Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở

Hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất ở của hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mà phải di chuyển chỗ ở quy định tại Điểm c Khoản 2 Điều 83 Luật Đất đai 2013, Điều 22 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP được thực hiện như sau:

1. Hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài nhận đất ở, nhà ở tái định cư mà số tiền được bồi thường về đất nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiểu quy định tại Điều 25 Quy định này thì được hỗ trợ khoản chênh lệch giữa giá trị suất tái định cư tối thiểu và số tiền được bồi thường về đất (không phải nộp thêm khoản chênh lệch).

2. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài tự lo chỗ ở thì ngoài việc được bồi thường về đất còn được nhận khoản tiền hỗ trợ tái định cư, cụ thể như sau: Tại khu vực đô thị là 60.000.000 đồng; khu vực ven đô thị, đầu mối giao thông là 50.000.000 đồng, khu vực nông thôn là 40.000.000 đồng.

Điều 21. Hỗ trợ người đang thuê nhà ở không thuộc sở hữu Nhà nước

Hỗ trợ người đang thuê nhà ở không thuộc sở hữu Nhà nước theo quy định tại Điều 23, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP được thực hiện như sau:

Hộ gia đình, cá nhân đang thuê nhà ở không phải là nhà ở thuộc sở hữu nhà nước khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ chi phí di chuyển tài sản bằng mức bồi thường chi phí di chuyển quy định tại Khoản 1, Điều 14, Quy định này.

Điều 22. Hỗ trợ khi thu hồi đất công ích của xã, phường, thị trấn

Hỗ trợ khi thu hồi đất công ích của xã, phường, thị trấn theo quy định tại Điều 24 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP được thực hiện như sau:

1. Trường hợp thu hồi đất thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn thì được hỗ trợ về đất bằng 100% mức bồi thường giá đất cùng loại trong bảng giá đất. Tiền hỗ trợ được nộp vào ngân sách nhà nước và được đưa vào dự toán ngân sách hàng năm của xã, phường, thị trấn; tiền hỗ trợ chỉ được sử dụng để đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng, các công trình công cộng, sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn.

2. Hộ gia đình, cá nhân thuê, nhận đấu thầu sử dụng đất thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn thì không được bồi thường về đất, chỉ được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại (nếu có) theo quy định tại Điều 76 Luật Đất đai 2013, Điều 3 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.

Điều 23. Hỗ trợ khác đối với người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất

Hỗ trợ khác đối với người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất theo quy định tại Điều 25, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP được thực hiện như sau:

Ngoài việc hỗ trợ theo các quy định tại các Điều 17, 18, 19, 20, 21, 22 của Quy định này, để bảo đảm có chỗ ở, ổn định đời sống, sản xuất và công bằng đối với người có đất thu hồi, UBND tỉnh quy định một số khoản hỗ trợ khác như sau:

1. Hỗ trợ cấp Giấy chứng nhận hoặc chỉnh lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; hỗ trợ người bị thu hồi đất ở phải di chuyển chổ ở mà không còn chỗ ở nào khác.

a) Hỗ trợ làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận hoặc chỉnh lý Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất bị thu hồi (kể cả trường hợp thửa đất nằm trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không điện áp đến 220kV thuộc diện Nhà nước không thu hồi đất nhưng được bồi thường, hỗ trợ do hạn chế khả năng sử dụng đất): 250.000 đồng/giấy.

b) Người bị thu hồi đất ở phải di chuyển chỗ ở mà không còn chỗ ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi thì trong thời gian chờ tạo lập chỗ ở mới, chờ bố trí tái định cư được hỗ trợ các khoản sau:

- Hỗ trợ thuê nhà 1.500.000 đồng/hộ/tháng và được hỗ trợ thêm mỗi nhân khẩu 200.000 đồng/tháng, thời gian tối đa không quá 6 tháng đối với trường hợp nhà bị giải tỏa là nhà 01 tầng, không quá 9 tháng đối với trường hợp nhà bị giải tỏa là nhà 02 tầng trở lên;

- Hỗ trợ tiền lắp đặt điện sinh hoạt cho các hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển đến nơi ở mới: 1.000.000 đồng/hộ;

- Hỗ trợ tiền lắp đặt điện thoại cho các hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển đến nơi ở mới: 500.000 đồng/hộ (chỉ hỗ trợ cho các hộ đã có đường dây điện thoại cố định tại nơi ở cũ);

- Hỗ trợ tiền lắp đặt nước sinh hoạt 1.500.000 đồng/hộ; trường hợp đào giếng (nơi chưa có hệ thống cấp nước sinh hoạt chung) thì hỗ trợ 5.000.000 đồng/hộ, cho các hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển đến nơi ở mới.

2. Hỗ trợ đời sống trong thời gian xây dựng lại nhà ở: Hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất có nhà trên đất phải giải tỏa và phải làm lại nhà ở tại địa điểm khác được hỗ trợ bằng tiền. Mức hỗ trợ là: 01 nhân khẩu/01 tháng tương đương 30 kg gạo tính theo giá trung bình của địa phương tại thời điểm lập phương án bồi thường với thời gian như sau:

- Nếu nhà bị giải tỏa là 01 tầng được hỗ trợ trong 06 tháng;

- Nếu nhà bị giải tỏa là từ 02 tầng trở lên được hỗ trợ trong thời gian 09 tháng.

Trường hợp phải di chuyển đến các địa bàn có điều kiện kinh tế, xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ không quá 12 tháng.

3. Các hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp (trước thời điểm thông báo chủ trương thu hồi đất mà đang trồng cây hàng năm dạng tập trung) nhưng chưa thu hoạch thì được hỗ trợ bằng giá trị một vụ trên cùng một diện tích. Giá để tính hỗ trợ là giá trung bình của địa phương tại thời điểm lập phương án bồi thường.

4. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi toàn bộ đất ở hoặc trên 30% diện tích đất nông nghiệp được giao, hiện có mức sống thuộc diện hộ nghèo theo tiêu chí hộ nghèo do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội công bố trong từng thời kỳ có giấy chứng nhận của cấp có thẩm quyền thì được hỗ trợ một lần tính theo nhân khẩu hiện có, mức cụ thể như sau:

a) Hộ nghèo tại đô thị: 5.000.000 đồng/khẩu

b) Hộ nghèo tại nông thôn: 6.000.000 đồng/khẩu

5. Hỗ trợ gia đình chính sách, hộ gia đình đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội của Nhà nước theo xác nhận của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội khi phải di chuyển chỗ ở do bị thu hồi đất ở, nhà ở như sau:

a) Người hoạt động Cách mạng trước năm 1945, Anh hùng lực lượng vũ trang, Bà mẹ Việt Nam anh hùng, Anh hùng lao động, thân nhân của liệt sỹ đang hưởng tiền tuất nuôi dưỡng hàng tháng và thương binh, bệnh binh, người đang hưởng chính sách như thương, bệnh binh bị mất sức lao động từ 81% trở lên: được hỗ trợ 7.000.000 đồng/chủ sử dụng đất, nhà;

b) Thương binh, người được hưởng chính sách như thương binh, bệnh binh bị mất sức lao động từ 61% đến dưới 81%: được hỗ trợ 6.000.000 đồng/chủ sử dụng đất, nhà;

c) Thương binh, người được hưởng chính sách như thương binh bị mất sức lao động từ 41% đến dưới 61%: được hỗ trợ 5.000.000 đồng / chủ sử dụng đất, nhà;

d) Gia đình liệt sỹ, người có công giúp đỡ Cách mạng đang hưởng trợ cấp hàng tháng, thương binh, người được hưởng chính sách như thương binh bị mất sức lao động từ 21% đến dưới 41%: được hỗ trợ 4.000.000 đồng /chủ sử dụng đất, nhà;

đ) Hộ gia đình có người đang hưởng chế độ trợ cấp xã hội khác của Nhà nước: được hỗ trợ 3.000.000 đồng / chủ sử dụng đất, nhà.

Trường hợp trong hộ gia đình có nhiều người thuộc diện được hưởng một trong các mức hỗ trợ trên thì hộ gia đình chỉ được tính hỗ trợ một lần theo mức cao nhất.

6. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 75 của Luật Đất đai; diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức giao đất nông nghiệp không được bồi thường quy định tại Khoản 2 Điều 77 Luật Đất đai 2013, Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP thì được hỗ trợ về đất bằng 30% mức bồi thường theo quy định đối với đất sản xuất nông nghiệp, đất làm muối, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất nông nghiệp khác và bằng 15% mức bồi thường theo quy định đối với đất rừng sản xuất (trừ đất rừng sản xuất là rừng tự nhiên). Giá đất để tính bồi thường, hỗ trợ áp dụng theo bảng giá đất do UBND tỉnh quy định.

Trường hợp đất đang sử dụng có được do các hành vi lấn, chiếm đất của các tổ chức, lấn chiếm đất chưa sử dụng và các hành vi vi phạm khác sau ngày Quyết định số 02/2010/QĐ-UBND ngày 05/2/2010 của UBND tỉnh có hiệu lực thi hành (ngày 15/02/2010) mà tại thời điểm vi phạm đã có văn bản ngăn chặn của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nhưng vẫn cố tình vi phạm thì không được hỗ trợ.

7. Khi hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi hết đất sản xuất nông nghiệp, đất nuôi trồng thủy sản hoặc phần diện tích còn lại không thể tiếp tục sản xuất dẫn đến các vật dụng phục vụ trực tiếp sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản có giá trị từ 500.000 đồng trở lên không thể tiếp tục sử dụng thì được xem xét hỗ trợ bằng tiền. Mức hỗ trợ bằng 50% giá trị vật dụng đó đối với các vật dụng có giá trị từ 500.000 đồng đến dưới 10.000.000 đồng; bằng 30% giá trị vật dụng đó đối với các vật dụng có giá trị từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng; bằng 10% giá trị vật dụng đó đối với các vật dụng có giá trị trên 50.000.000 đồng theo giá thị trường tại thời điểm thu hồi đất.

8. Hộ gia đình, cá nhân khi bị thu hồi đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở trong khu dân cư nhưng không được công nhận là đất ở; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở riêng lẻ; đất vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở dọc kênh mương và dọc tuyến đường giao thông; đất vườn, ao có nguồn gốc từ được tách từ thửa đất có nhà ở, nếu đất vườn, ao đó đủ điều kiện để bồi thường thì ngoài việc được bồi thường theo giá đất nông nghiệp trồng cây lâu năm theo giá đất cụ thể còn được hỗ trợ bằng tiền với mức hỗ trợ bằng 50% giá đất ở thửa đất đó theo quy định tại bảng giá đất; diện tích hỗ trợ theo diện tích thực tế bị thu hồi.

Trường hợp đất ở cùng thửa đất vườn, ao thuộc các trường hợp nêu trên không đủ điều kiện bồi thường nhưng người sử dụng đất không có đất ở nào khác thì được hỗ trợ đối với đất vườn, ao trong cùng thửa đất, mức hỗ trợ bằng 30% giá đất ở thửa đất đó theo quy định tại bảng giá đất; diện tích hỗ trợ theo diện tích thực tế bị thu hồi; trường hợp diện tích thực tế bị thu hồi lớn hơn 02 lần hạn mức đất ở thì tính tối đa bằng 02 lần hạn mức giao đất ở tại địa phương.

Diện tích đất vườn, ao đã được hỗ trợ trong trường hợp này thì không được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm theo quy định tại Khoản 1, Điều 18 của Quy định này. Trường hợp giá trị hỗ trợ đất vườn, ao thấp hơn thì áp dụng hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm và không hỗ trợ đất vườn, ao.

9. Hỗ trợ về nhà, công trình xây dựng không hợp pháp; hỗ trợ nhà ở của hộ gia đình, cá nhân nằm ngoài phạm vi giải phóng mặt bằng nhưng quá sát công trình

a) Nhà và công trình khác xây dựng trên đất không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 75 Luật Đất đai 2013, xây dựng trước 01/7/2014 và tại thời điểm xây dựng chưa có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc xây dựng phù hợp quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt, không vi phạm hành lang bảo vệ công trình thì được hỗ trợ bằng 90% mức bồi thường theo quy định tại Điều 11 Quy định này.

b) Nhà và công trình khác được xây dựng trước ngày 01/7/2014 trên đất không đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 75 Luật Đất đai 2013 mà tại thời điểm xây dựng vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được công bố và cắm mốc hoặc vi phạm hành lang bảo vệ công trình đã được cắm mốc, khi xây dựng cơ quan nhà nước có thẩm quyền không có thông báo không được phép xây dựng hoặc lập biên bản đình chỉ thì không được bồi thường nhưng được hỗ trợ. Mức hỗ trợ bằng 60% mức bồi thường theo quy định tại Điều 11 Quy định này. Trường hợp nhà, công trình khác xây dựng từ ngày 01/7/2014 trở về sau thì không được bồi thường, hỗ trợ.

c) Nhà và công trình xây dựng khác không được phép xây dựng nhưng xây dựng trên đất có đủ điều kiện được bồi thường về đất và xây dựng từ ngày 01/7/2004 đến trước ngày 01/7/2014, khi xây dựng cơ quan nhà nước có thẩm quyền không có thông báo không được phép xây dựng hoặc lập biên bản đình chỉ thì không được bồi thường nhưng được hỗ trợ. Mức hỗ trợ bằng 70% mức bồi thường theo quy định tại Điều 11 Quy định này.

d) Nhà và công trình khác không được phép xây dựng nhưng đã xây dựng trước ngày 01/7/2004 trên đất đủ điều kiện được bồi thường theo quy định tại Điều 75 Luật Đất đai 2013 mà tại thời điểm xây dựng cơ quan nhà nước có thẩm quyền không có thông báo không được phép xây dựng hoặc không lập biên bản đình chỉ thì không được bồi thường nhưng được hỗ trợ. Mức hỗ trợ bằng 100% mức bồi thường theo quy định tại Điều 11 Quy định này.

đ) Nhà và công trình xây dựng khác không thuộc các trường hợp quy định tại Điểm a, b, c, d khoản này nhưng xây dựng trước 01/7/2014 và xây dựng trước thông báo chủ trương thu hồi đất được xem xét hỗ trợ bằng 30% mức bồi thường theo quy định tại Điều 11 Quy định này.

Nhà ở, nhà và công trình khác được tạo lập, xây dựng trái quy định kể từ ngày 01/7/2014 trở về sau; xây dựng sau thông báo chủ trương thu hồi đất thì không được hỗ trợ. Khi Nhà nước thu hồi đất phải tự tháo dỡ và được xem xét hỗ trợ chi phí tháo dỡ, di dời theo thực tế, nếu không tự tháo dỡ thì thực hiện cưỡng chế theo quy định.

e) Khi giải phóng mặt bằng xây dựng các công trình cầu, đường bộ, đường sắt có hành lang bảo vệ an toàn mà nhà ở của hộ gia đình, cá nhân nằm ngoài phạm vi giải phóng mặt bằng nhưng quá sát công trình (cách chân công trình từ 2m trở xuống); nền nhà thấp hơn hoặc cao hơn mặt đường từ 1m trở lên và nhà ở cách chân đường từ 3m trở xuống thì được xem xét hỗ trợ để khắc phục ảnh hưởng sau khi có ý kiến thống nhất của Sở Giao thông Vận tải và Sở Xây dựng. Mức hỗ trợ cụ thể do tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng và chủ đầu tư đề xuất UBND cấp huyện quyết định trên cơ sở thống nhất của Sở Giao thông Vận tải và Sở Xây dựng.

10. Hỗ trợ khi giá đất thửa đất bồi thường, giao đất tái định cư cao hơn giá đất thửa đất thu hồi

a) Khi bồi thường bằng đất mà thửa đất bồi thường có diện tích bằng diện tích thu hồi nhưng có giá đất cao hơn thửa đất thu hồi không quá 10% thì người được bồi thường không phải nộp thêm khoản tiền chênh lệch cho Nhà nước. Trường hợp giá đất thửa đất bồi thường cao hơn từ 10% trở lên thì người được bồi thường phải nộp thêm khoản tiền chênh lệch phần giá đất từ 10% trở lên hoặc quy đổi giảm diện tích bồi thường. Nhưng diện tích bồi thường sau khi quy đổi phải lớn hơn diện tích đất ở tối thiểu được phép tách thửa do UBND tỉnh quy định. Trường hợp sau khi quy đổi diện tích bồi thường bằng diện tích tối đất ở thiểu được phép tách thửa do UBND tỉnh quy định mà vẫn còn khoản tiền chênh lệch và người được bồi thường không có khả năng nộp khoản tiền chênh lệch này thì được xem xét ghi nợ tiền sử dụng đất đối với khoản chênh lệch đó.

b) Khi bố trí tái định cư mà thửa đất bố trí tái định cư có diện tích bằng diện tích thu hồi nhưng giá đất tại khu tái định cư cao hơn không quá 20%, thì người được bố trí tái định cư không phải nộp thêm khoản tiền chênh lệch cho Nhà nước. Trường hợp giá đất thửa đất bố trí tái định cư cao hơn từ 20% trở lên thì người được bố trí tái định cư phải nộp thêm khoản tiền chênh lệch phần giá đất từ 20% trở lên hoặc quy đổi giảm diện tích giao đất tái định cư. Nhưng diện tích giao đất tái định cư sau khi quy đổi không thấp hơn diện tích suất tái định cư tối thiểu quy định tại Điều 25 Quy định này. Trường hợp người được giao đất tái định cư không có khả năng nộp khoản tiền chênh lệch thì được xem xét ghi nợ tiền sử dụng đất khoản chênh lệch đó.

11. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất quy định tại Khoản 2 Điều 5 Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT (đã được sửa đổi, bổ sung theo Khoản 1 Điều 11 Thông tư số 33/2017/TT-BTNMT) bị thu hồi dưới 30% diện tích đất nông nghiệp đang sử dụng mà việc thu hồi đất ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất của người bị thu hồi đất thì được xem xét hỗ trợ đời sống trong thời gian 5 tháng. Mức hỗ trợ cho một nhân khẩu được tính bằng tiền tương đương 30 kg gạo trong 01 tháng theo giá trung bình tại thời điểm hỗ trợ của địa phương.

Việc xác định trường hợp bị ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất của người bị thu hồi đất do UBND cấp xã chủ trì cùng với Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng xem xét đề xuất bằng văn bản.

12. Đối với diện tích đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất đủ điều kiện được bồi thường về đất theo quy định nằm trong hành lang bảo vệ an toàn đường dây dẫn điện trên không điện áp đến 220kV thuộc diện Nhà nước không thu hồi đất thì ngoài việc được hỗ trợ do hạn chế khả năng sử dụng đất theo Điểm b Khoản 2 Điều 6 Quy định này còn được hỗ trợ thêm bằng 70% giá đất của loại đất đó quy định tại bảng giá đất. Việc hỗ trợ chỉ được thực hiện một lần.

13. Ngoài việc hỗ trợ theo các quy định trên, tùy theo tính chất của từng dự án, Chủ tịch UBND tỉnh quyết định hỗ trợ khác để bảo đảm ổn định đời sống, sản xuất cho người bị thu hồi đất. Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng chủ trì, phối hợp với chính quyền địa phương căn cứ vào tình hình thực tiễn, điều kiện cụ thể của từng dự án để xem xét, đề xuất biện pháp hỗ trợ cho phù hợp.

 

MỤC 4: TÁI ĐỊNH CƯ

Điều 24. Điều kiện bố trí tái định cư, xử lý một số trường hợp cụ thể về tái định cư

1. Điều kiện bố trí tái định cư

a) Hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển chỗ ở do bị thu hồi hết đất ở mà không có chỗ ở, đất ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi (trừ trường hợp hộ gia đình, cá nhân không có nhu cầu tái định cư).

b) Hộ gia đình, cá nhân phải di chuyển chỗ ở do bị thu hồi đất ở mà phần diện tích đất ở còn lại sau khi thu hồi bao gồm cả đất vườn đủ điều kiện chuyển mục đích sang đất ở không đủ điều kiện để ở theo quy định của UBND tỉnh và không có chỗ ở, đất ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất bị thu hồi.

c) Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở nằm trong hành lang an toàn khi xây dựng công trình công cộng có hành lang bảo vệ an toàn phải di chuyển chỗ ở, trường hợp được xem xét cho chủ trương để thu hồi đất, di chuyển theo khoản 4 Điều 6 Quy định này mà không có chỗ ở, đất ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất trong hành lang an toàn.

d) Trường hợp đất ở của hộ gia đình, cá nhân bị sạt lở, sụt lún bất ngờ toàn bộ diện tích thửa đất hoặc một phần diện tích thửa đất mà phần còn lại không còn khả năng tiếp tục sử dụng.

2. Xử lý một số trường hợp cụ thể về giao đất tái định cư

a) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đủ điều kiện bố trí tái định cư nhưng địa phương chưa có quỹ đất, quỹ nhà ở tái định cư thì được giao đất phân tán chưa đầu tư hạ tầng để tái định cư và được hỗ trợ tái định cư theo quy định tại Khoản 2 Điều 20 Quy định này.

Trường hợp địa phương có quỹ đất đã giải phóng mặt bằng, đầu tư hạ tầng để thực hiện các dự án tạo quỹ đất, dự án khu dân cư mà hộ gia đình, cá nhân có nhu cầu bố trí tái định cư vào quỹ đất các dự án này thì được xem xét bố trí nhưng không được hỗ trợ tái định cư theo quy định tại Khoản 2 Điều 20 Quy định này.

b) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đủ điều kiện bố trí tái định cư có nhu cầu tái định cư tại chỗ mà địa phương có quỹ đất thì được bố trí tái định cư tại chỗ nhưng không được hỗ trợ tái định cư theo quy định tại Khoản 2 Điều 20 Quy định này.

c) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất gắn liền với nhà ở thuộc trường hợp phải di chuyển chỗ ở nhưng không đủ điều kiện được bồi thường về đất ở, không có chỗ ở, đất ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất ở thu hồi, địa phương không có quỹ đất để giao theo quy định tại Khoản 3, Điều 4 Quy định này, nếu có nhu cầu giao đất để làm nhà ở thì được xem xét giao đất ở tại khu tái định cư với diện tích bằng suất tái định cư tối thiểu và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định.

d) Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có nhà ở trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà có nguồn gốc do lấn, chiếm, khi Nhà nước thu hồi đất nếu không có chỗ ở, đất ở nào khác, địa phương không có quỹ đất để giao theo quy định tại Khoản 2, Điều 5 Quy định này nếu có nhu cầu giao đất để làm nhà ở thì được xem xét giao đất ở tại khu tái định cư với diện tích bằng suất tái định cư tối thiểu và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định.

e) Ưu tiên vị trí thuận lợi cho người có đất thu hồi sớm bàn giao mặt bằng, người có đất thu hồi là người có công với cách mạng.

Điều 25. Suất tái định cư tối thiểu

Suất tái định cư tối thiểu theo quy định tại Điều 27 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP được thực hiện như sau:

1. Suất tái định cư tối thiểu đất ở là diện tích tối thiểu của lô đất tái định cư. Suất tái định cư tối thiểu đất ở được quy định như sau:

- Đối với các phường thuộc thành phố Đồng Hới: 100 m2;

- Đối với các xã thuộc thành phố Đồng Hới, phường Ba Đồn thuộc thị xã Ba Đồn và thị trấn các huyện: 120 m2;

- Đối với khu vực ven thị trấn, khu vực đầu mối giao thông, các phường khác thuộc thị xã Ba Đồn: 150 m2;

- Đối với các xã đồng bằng còn lại: 200 m2;

- Đối với các xã trung du, miền núi: 300 m2.

2. Giá đất là giá cụ thể để thu tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư do UBND tỉnh (hoặc cơ quan được ủy quyền) quyết định.

3. Suất tái định cư tối thiểu được tính bằng tiền:

Bằng diện tích suất tái định cư quy định tại Khoản 1 Điều này nhân (x) với giá đất khu tái định cư của dự án được xác định theo quy định tại Khoản 2 Điều này.

4. Suất tái định cư tối thiểu về nhà ở trên địa bàn tỉnh là: 40m2 sàn xây dựng.

5. Suất tái định cư tối thiểu quy định tại Khoản 1 Khoản 4 Điều này cũng được áp dụng cho các trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 24 Quy định này.

Điều 26. Chính sách thưởng trong bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và kinh phí thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư

1. Đối tượng được thưởng: Các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chấp hành tốt chủ trương, chính sách, kế hoạch, phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và di chuyển, bàn giao mặt bằng trước hoặc đúng thời hạn quy định trong phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt cho tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng.

2. Mức thưởng

a) Thưởng 5% (năm phần trăm) trên giá trị bồi thường, hỗ trợ tài sản trên đất (không bao gồm giá trị bồi thường đất và các chính sách hỗ trợ về đất) đối với các đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều này có tổng giá trị bồi thường về tài sản dưới 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng).

b) Thưởng 8% (tám phần trăm) trên giá trị bồi thường, hỗ trợ tài sản trên đất (không bao gồm giá trị bồi thường đất và các chính sách hỗ trợ về đất) đối với các đối tượng quy định tại Khoản 1 Điều này có tổng giá trị bồi thường về tài sản trên 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng). Nhưng tối đa không quá 10.000.000 đồng (mười triệu đồng)/đối tượng.

3. Nguồn kinh phí: Trích từ kinh phí bồi thường, hỗ trợ và tái định cư của các công trình dự án.

4. Kinh phí thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư bằng 5% chi phí tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã được phê duyệt nhưng không quá 20 triệu đồng/phương án.

Điều 27. Việc xác định giá đất cụ thể làm căn cứ tính tiền bồi thường, hỗ trợ về đất

Giá đất cụ thể để bồi thường về đất được xác định theo quy định tại Điều 114 Luật Đất đai 2013; Điều 15 và Điều 18 Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về giá đất và Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30/6/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết phương pháp xác định giá đất, xây dựng điều chỉnh bảng giá đất, định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất.

Nguồn: Quyết định số 22/2018/QĐ-UBND ngày 13/9/2018

[Trở về]