Bản in     Gởi bài viết  
Danh sĩ Huỳnh Côn (1850 - 1925)

Ông Huỳnh Côn còn có tên gọi là Hoàng Côn. Chính quê ông là làng Trung Bính, nay thuộc xã Bảo Ninh, thành phố Đồng Hới - Nơi hội tụ đủ sắc màu của đại cảnh, thiên nhiên sông biển thơ mộng, hữu tình.

Cụ thân sinh ông là một nhà nho nghèo, tuy đậu tú tài nhưng không chịu ra làm quan, ở nhà làm thuốc trị bệnh giúp dân, nổi tiếng y đức. Năm Nhâm Thân (1873), gia đình cụ dời sang ở làng Kiên Bính, phường Đồng Đình nay là phường Hải Đình - một làng xưa kia từ thời chúa Nguyễn vốn có mối quan hệ vừa tình đồng đội, vừa tình đồng hương của những đơn vị thuỷ quân thuộc thuyền ’’Cừ Hà’’ giống nhau về phong tục tập quán, tế tự, lễ nghi... Trên vùng quê địa linh này, mười hai năm sau, ngày 20 tháng 2 năm 1850 (năm Canh Tuất), cậu bé Huỳnh Côn cất tiếng khóc chào đời bên tiếng sóng vỗ nhẹ đôi bờ Nhật Lệ.

Thời thuở nhỏ, Huỳnh Côn học với cha; đến năm l1 tuổi, được cha mời thầy về nhà dạy riêng. Cùng học trong nhà với Huỳnh Côn còn có Nguyễn Phạm Tuân, Trần Khắc Tuấn đều là những người có tiếng học giỏi.

Năm 17 tuổi (1867) Huỳnh Côn bắt đầu đi thi, đỗ cử nhân. Năm 18 tuổi (1868), có ân khoa, ông thi tiếp đỗ cử nhân. Đến năm Đinh Sửu, năm Tự Đức thứ 29 (1877) Huỳnh Côn dự khoa thi tiến sĩ, đồng khoa với cụ Phan Đình Phùng. Quy chế trường thi và lệ nhà Vua hết sức nghiêm ngặt. Mặc dù vi phạm trường quy, ông viết nhầm một chữ có thể bị ghép vào tội chém đầu, nhưng với trí thông minh và tài thông nho, ông chỉ thêm vào chữ ’’hạ’’ sau cụm từ ’’Hoàng đế hạ bệ’’, ông đã thoát trọng tội. Không những thế, Vua Tự Đức xem cả bài thi của Huỳnh Côn đã khâm phục học vấn uyên bác, văn chương lỗi lạc đã tha tội phạm trường quy, chỉ phạt hạ điểm từ Tiến sĩ xuống Phó bảng.

Huỳnh Côn học giỏi và tài hoa, nhưng đời làm quan của ông lại lúc giáng lúc thăng. Từ thời vua Tự Đức đến thời vua Duy Tân, ông kinh qua nhiều bộ, ngành làm quan trong triều và trải qua trị nhiệm nhiều địa phương với nhiều chức vụ khác nhau: Từ Tri huyện Nam Xương (Nam Định) đến Án sát tỉnh Phú Yên, rồi ra Phũ Doãn Thừa Thiên; từ Quảng Bình đến Hà Tĩnh, từ Quảng Ngãi đến Khánh Hoà, Bình Thuận rồi lại trở về triều. Từ bộ Lễ đến bộ Hộ, bộ Công, bộ Học (giáo dục) rồi ông làm Phụ chánh Thân Thần, giúp vua Duy Tân khi còn nhỏ, làm thầy giảng văn sách cho Vua v.v... Ở cương vị nào, ở đâu ông cũng tỏ rõ khả năng đảm đương nhiệm vụ, ông cũng rất thanh liêm chính trực. Làm Thượng thư bộ Hộ, ông là người lập ra dự toán ngân sách cho Nam Triều, quy định và giữ giá tiền đồng với bạc thật của Ngân hàng chính phủ Pháp bảo hộ, đề xuất tăng lương cho quan lại Nam Triều. Khi làm Thượng thư bộ Lễ nhưng rất giỏi về giáo dục nên triều đình cử ông ra Hà Nội tham gia cải cách giáo dục cho cả nước, lập thêm Bộ Học (tức là bộ Giáo dục) cho Nam Triều.

Trong cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân chống Pháp, dù chưa biết ông Huỳnh Côn có tham gia giữ vai trò gì, nhưng với địa vị là Thượng Thư bộ Lễ và Phụ chánh đại thần mà để Vua chống lại người Pháp thì ắt hẳn người Pháp không tin ông. Viên Khâm sứ Châtel (Sa-ten) tìm cách hãm hại ông nhưng không đủ chứng cứ và lý lẽ để kết tội ông điều gì.

Khởi nghĩa Duy Tân thất bại, ông Huỳnh Côn xin về nghỉ hưu. Bình thường, dù chức trọng quyền cao hay lúc về nghỉ hưu, ông luôn khuyên dạy người nhà, từ vợ đến con cháu phải tự đảm đương lấy công việc. Ông rất nghiêm khắc với tất cả người nào dựa vào thế lực của ông để mưu điều danh lợi hoặc ức hiếp người khác.

Nhờ đức thanh liêm của ông mà con cháu ông đều tự lo học hành thành đạt. Con trai ông là Hoàng Châu Tích, đậu cử nhân, làm Biên tu Quốc sử quán, nổi tiếng về thơ Nôm; Hoàng Khắc Thẩm, nguyên giữ chức Tri huyện Cam Lộ (Quảng Trị) đã hết lòng bảo vệ các tổ chức Việt Minh ở địa phương; sau Cách mạng tháng 8/1945 được mời về Quảng Bình phụ trách xây dựng ngành Tư pháp; ông Huỳnh Kham là vị bác sỹ y khoa đầu tiên ở vùng Đồng Hới, nguyên trưởng khoa Da liễu bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội, được tặng danh hiệu ’’Thầy thuốc ưu tú’’. Cháu nội của ông là Giáo sư Hoàng Tuệ, nguyên Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học Việt Nam, và Giáo sư Hoàng Thiếu Sơn, Nhà giáo Nhân dân.

Trong thời gian nghỉ hưu, ông Huỳnh Côn còn tiếp tục sự nghiệp ’’Lương y từ mẫu’’ của ông cụ thân sinh. Ông đã tập hợp kinh nghiệm về Đông y, viết bộ sách ’’TRUNG VIỆT DƯỢC TÍNH HỢP BIÊN’’ gồm 2 bộ, với 32 quyển, với mục lục rõ ràng, ghi nhận và hướng dẫn sử dụng 1.655 vị thuốc chọn lọc.

Về văn học, ông đã để lại nhiều câu đối bằng chữ Hán trong các đền, đình thờ, trong dân và một số tác phẩm nổi tiếng như: ’’QUẢNG BÌNH ĐĂNG KHOA LỤC’’, ’’CHIÊM THÀNH KHẢO’’, ’’HÀ NGUYÊN THI CẢO’’ v.v...

Ngoài việc làm thuốc chữa bệnh giúp đời, viết sách, câu đối lưu truyền trong dân gian, ông Huỳnh Côn còn mở trường dạy chữ Hán cho những người hâm mộ Hán học. Ông cũng rất quan tâm đến việc dạy học chữ Quốc ngữ cho dân: Lời tựa ông viết cho quyển sách ’’QUẢNG BÌNH ĐỊA DƯ TIỆN ĐỌC’’ do ông Trần Kinh biên soạn dùng làm sách giáo khoa bằng chữ Quốc ngữ chỉ trước khi ông mất 22 ngày mà minh bạch, rõ ràng và tâm huyết làm sao!

Ông Huỳnh Côn mất ngày 7 tháng Giêng năm Ất Sửu (3l/01/1925). Lời khen ngợi tốt đẹp nhất mà mọi người dành cho ông Huỳnh Côn là ’’Ông qua đời trong cảnh sống hết sức thanh bạch’’. Người dân Đồng Hới, nhân dân Quảng Bình vô cùng mến mộ ông: một quan thanh liêm, một nhà Hán học và một Lương y nhiệt thành tâm huyết. Tên Ông được đặt cho một đường phố Trung tâm thành phố Đồng Hới.

Nguồn: Quảng Bình ẩn tích thời gian

Hội DSVH Việt Nam tỉnh - Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Bình - 2009

[Trở về]