VĂN BẢN MỚI

    Bản in     Gởi bài viết  

LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ TRUYỀN THỐNG CỦA ĐƠN VỊ

Giữa năm 1943 Hội Văn hóa cứu quốc được thành lập, lấy đề cương văn hóa làm cương lĩnh hoạt động là tổ chức tiến thân của các Hội VHNT Việt Nam sau này.
Tại Quảng Bình, khi Pháp đánh chiếm Đồng Hới, lực lượng kháng chiến lên Tuyên Hóa lập chiến khu. Lực lượng văn nghệ sĩ hoạt động trên nhiều lĩnh vực thơ văn, nhạc họa... Trong thời kỳ này, Quảng Bình đã thành lập Đội Văn công thuộc Ty Thông tin Tuyên truyền do Nguyễn Thơ làm đội trưởng. Trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) đội ngũ văn nghệ sĩ Quảng Bình càng nổi lên rõ rệt, đã có nhiều tác giả trở thành hội viên các Hội chuyên ngành Trung ương. Năm 1961 Hội Văn nghệ Quảng Bình được thành lập lúc đầu lấy tên là Hội Sáng tác Văn nghệ Quảng Bình, cơ quan có chung trụ sở Ty Văn hóa, do ông Lê Khai trưởng Ty Văn hóa làm Chủ tịch.

Từ ngày thành lập đến nay, Hội đã tập hợp được lực lượng văn nghệ sĩ khá mạnh và được bổ sung dần qua các thời kỳ.

Về Văn học có: Xuân Hoàng, Nguyễn Văn Dinh, Trần Nhật Thu, Trần Công Tấn, Nguyễn Khắc Phê, Lê Khai, Dương Tử Giang, Hà Nhật, Văn Nhĩ, Hải Bằng, Xích Bích, Lâm Thị Mỹ Dạ, Tứ Sen, Hữu Phán, Lê Thị Mây, Mai Văn Tấn, Hoàng Vũ Thuật, Văn Lợi, Hoàng Bình Trọng, Ngô Minh, Hải Bằng, Hải Kỳ, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Khắc Thạch, Lý Hoài Xuân, Vĩnh Nguyên, Lê Xuân Đố, Thế Tường, Hoàng Thái Sơn, Nguyễn Quang Vinh, Đinh Duy Tư, Thúc Hà, Lê Đình Ty, Hồng Thế, Phan Văn Khuyến, Mai Văn Hoan, Đặng Thị Kim Liên, Hoàng Văn Bàng, Giang Biên...

Về Âm nhạc có: Thái Quý, Hoàng Sông Hương, Quách Mộng Lân, Dương Mạnh Đạt, Minh Phương, Dương Viết Chiến, Hoàng Trung An, Thân Trọng Phúc, Nguyễn Văn Bổng, Đức Bột, Thùy Linh, Ngọc Tân, Hoài Thương...

Về Sân khấu: Ngọc Tranh, Hồ Ngọc Ánh, Văn Nhĩ, Nguyễn Quang Vinh, Lê Đức Phỉ, Phan Xuân Hải...

Về nghiên cứu văn hóa văn nghệ dân gian có: Mai Văn Tấn, Nguyễn Tú, Đinh Thanh Dự, Trần Hùng, Văn Tăng, Trần Đình Vĩnh, Lê Đình Lờng, Đỗ Duy Văn...

Về Mỹ thuật: Lê Anh Tân, Phan Đình Tiến, Đoàn Văn Thịnh, Trương Minh Luyện, Lê Đan Tê, Văn Đắc, Quang Hiếu, Dương Văn Liên, Nguyễn Thành Phố, Hoàng Linh, Lê Ngọc Thái, Đặng Minh Quý, Trần Dương Sơn, Vũ Xuân Trường...

Về Kiến trúc: Đặng Đức Dục, Trần Đình Dinh, Hoàng Tròn, Nguyễn Xuân Định, Ngô Thị Bảy, Trần Đình Tự, Phan Tứ, Nguyễn Văn Minh...

Về Nhiếp ảnh: Ngô Độc Lập, Hữu Ngụ, Lê Đình Ty, Võ Xuân Bé, Minh Mẫn, Thành Huế, Việt Thành, Văn Báu...

Trong số những tên tuổi ấy, cùng với tác phẩm của mình đã đoạt nhiều giải thưởng, nhiều Huy chương qua các cuộc thi, các hội diễn, nhiều công trình phục vụ đời sống xã hội trên quê hương và có mặt trên đời sống VHNT của cả nước mang lại vinh dự cho tỉnh nhà.

- Đại hội lần thứ I vào ngày 08, 09 tháng 11 năm 1961. Số lượng hội viên là 35 người. Số lượng BCH là 05 người (gồm đức Lê Khai, Dương Tử Giang, Trần Công Tấn, Văn Nhĩ, Cẩm Lai. Từ năm 1964 bổ sung thêm Xuân Hoàng, Mai Văn Tấn). Chủ tịch Hội đầu tiên là đ/c Lê Khai. Từ 1965 đ/c Lê Khai chuyển công tác, nhà thơ Xuân Hoàng được bầu làm Chủ tịch Hội.

Ban Thường vụ Hội lúc đầu có 03 đồng chí: Lê Khai, Dương Tử Giang, Cẩm Lai. Đến năm 1965, Ban Thường vụ Hội gồm: Xuân Hoàng, Dương Tử Giang, Trần Công Tấn, Mai văn Tấn, Văn Nhĩ.

Thành tích của Hội trong nhiệm kỳ này là: Tổ chức cho hội viên bám sát thực tế cuộc sống, phản ánh sâu sắc và cổ vũ kịp thời phong trào xây dựng hợp tác xã sản xuất, xây dựng đời sống mới, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ miền Bắc XHCN và đấu tranh chống chia cắt đất nước, Hội đã xuất bản các đầu sách: Một nhành xuân, Gió Đại Phong tập 1, Gió Đại Phong tập 2, Quảng Bình anh dũng, Quảng Bình chiến thắng (tập 1 và 2), Quê hương chiến đấu, Gái Quảng Bình, Người thợ, Đồng Hới, Mặt trận phía sau, Tiếng hát một chặng đường... Và nhiều đầu sách của hội viên như: Du kích sông Loan, Miền Trung, Hương đất biển (thơ) của Xuân Hoàng. Tiếng hát một chặng đường (thơ) của Dương Tử Giang và Xích Bích, Đường qua làng Hạ (tiểu thuyết) của Nguyễn Khắc Phê, bài thơ Cồn Cỏ của Hải Bằng và bài thơ Bức tường vở đôi của Trần Nhật Thu được giải ba Báo Văn nghệ, bài thơ Khoảng trời hố bom của Lâm Thị Mỹ Dạ, giải nhất cuộc thi báo Văn nghệ năm 1972.

- Đại hội lần thứ II họp ngày 03 và 04 tháng 3 năm 1974, tổng số hội viên của Hội có 85 người, BCH Hội có 08 người, Ban Thường vụ Hội gồm 05 người: Xuân Hoàng, Văn Nhĩ, Nguyễn Văn Dinh, Mai Văn Tấn, Trần Công Tấn; Chủ tịch Hội: nhà thơ Xuân Hoàng.

Thành tích của nhiệm kỳ này là đã hình thành ở Quảng Bình một vùng thơ, một trung tâm thơ để sau này lan tỏa cho cả khu vực miền Trung. Văn nghệ sĩ Quảng Bình đã bám sát chiến hào, mỗi cung đường, mỗi thôn xóm cùng quân và dân Quảng Bình làm nên kỳ tích Hai giỏi, đồng thời thông qua tác phẩm, văn học nghệ thuật góp phần phát hiện và giới thiệu những con người anh hùng với quê hương, với cả nước. Nhiều tác phẩm thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết, nhiều kịch bản lớn có chất lượng ra đời.

Về sân khấu có các vở : ’’Tín hiệu trái tim’’ và ’’Người từ mặt đất lên’’ (kịch nói) của Hồ Ngọc Ánh (đều đoạt giải thưởng sân khấu toàn quốc 1970); ’’Say súng’’ (kịch nói) của Ngọc Tranh; ’’Chiếc áo’’ (kịch dân ca) của Lê Hồng Cần. Trong thời gian này, Đoàn văn công Quảng Bình còn dựng các vở nổi tiếng của các tác giả ngoài tỉnh như: ’’Nổi gió’’ của Đào Hồng Cẩm; ’’Bạch đàn liểu’’ của Xuân Trình. Về văn học có các tập ’’Hương đất biển"; "Biển và bờ’’; ’’Dải đất vùng trời’’ (thơ của Xuân Hoàng); ’’Đường giáp mặt trận’’ (tiểu thuyết của Nguyễn Khắc Phê).

Năm 1976, ba tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế hợp nhất thành tỉnh Bình Trị Thiên. Nhạc sĩ Trần Hoàn - Phó Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bình Trị Thiên làm Trưởng ban chỉ đạo hợp nhất lực lượng văn nghệ sĩ của 3 tỉnh và cử ra Ban Vận động thành lập Hội VHNT Bình Trị Thiên do nhà thơ Thanh Hải làm trưởng ban, nhà thơ Xuân Hoàng, nhà thơ Lương An làm phó ban. Hoạt động của Hội trong giai đoạn này là tập hợp lực lượng, xây dựng chương trình hoạt động chuẩn bị cho Đại hội VHNT Bình Trị Thiên lần 1 (tức tính Đại hội lần III của Hội VHNT Quảng Bình).

- Đại hội lần thứ III (lần thứ 1 Hội VHNT Bình Trị Thiên) tổ chức vào các ngày 3, 4, 5 tháng 07 năm 1978. Hội có 285 hội viên, trong đó có 68 hội viên chuyên ngành Trung ương. Nhạc sĩ Trần Hoàn được bầu làm Chủ tịch Hội. Các nhà thơ Xuân Hoàng, Thanh Hải, Lương An làm Phó Chủ tịch. Nhiệm kỳ này đã xuất bản tập san Văn nghệ Bình Trị Thiên. Ngoài ra, đã xuất bản 20 tác phẩm văn học, 71 tác phẩm được trao tặng thưởng VHNT Bình Trị Thiên lần 1.

- Đại hội lần thứ IV (lần thứ II Hội VHNT Bình Trị Thiên) tổ chức vào các ngày 1, 2, 3 tháng 8 năm 1983. BCH gồm 23 người. Ban Thường vụ gồm 11 người. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, được bầu làm Chủ tịch Hội kiêm Tổng Thư ký; các Phó Chủ tịch gồm Xuân Hoàng, Tô Nhuận Vĩ, họa sĩ Vũ Trung Lương, đạo diễn Xuân Đàm; các Phó Tổng Thư ký: Phan Văn Khuyến, Hoàng Phủ Ngọc Tường; các ủy viên thư ký: Minh Hằng, Trần Hữu Pháp, Bửu Chỉ, Sĩ Sô. Tại Đại hội này tập san Văn nghệ Bình Trị Thiên được Bộ Văn hóa cấp Quyết định chuyển thành tạp chí Sông Hương do nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm làm Tổng Biên tập. Tháng 4 năm 1986 nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm chuyển công tác, nhà thơ Xuân Hoàng giữ chức vụ quyền Chủ tịch Hội, nhà văn Tô Nhuận Vĩ giữ chức Phó Chủ tịch kiêm Tổng Biên tập tạp chí Sông Hương. Do điều động công tác, một thời gian sau nhà thơ Hoàng Phủ Ngọc Tường giữ chức Tổng Thư ký (tương đương Chủ tịch Hội).
Trong thời kỳ này, thành lập giải thưởng VHNT Bình Trị Thiên do UBND tỉnh quyết định mang tên ’’Giải thưởng Bông Sen Trắng’’.

- Đại hội lần thứ V (lần thứ III Hội Văn học Nghệ thuật Bình Trị Thiên) tổ chức tháng 3/1989, BCH gồm 13 người, nhà văn Tô Nhuận Vĩ làm Tổng Thư ký (tương đương Chủ tịch) nhà văn Nguyễn Quang Lập, nghệ sĩ Nhiếp ảnh Sĩ Sô làm Phó Tổng Thư ký.

Tháng 7/1989 tách tỉnh, Quảng Bình trở về địa giới cũ, nhà thơ Hoàng Vũ Thuật được cử làm triệu tập viên, có nhiệm vụ tập hợp lực lượng văn nghệ sĩ, chuẩn bị lập lại Hội VHNT Quảng Bình. Ngày 7/9/1989 tỉnh ra Quyết định ban hành quy chế hoạt động của Hội VHNT Quảng Bình. Hội VHNT Quảng Bình có 1 Ban chấp hành lâm thời gồm 9 đồng chí, do nhà thơ Hoàng Vũ Thuật làm Chủ tịch Hội, ông Phan Văn Khuyến làm Phó Chủ tịch. Ban Thường vụ Hội gồm: Hoàng Vũ Thuật, Phan Văn Khuyến, Xuân Hoàng. Nhà thơ Xuân Hoàng làm Chủ tịch Hội đồng nghệ thuật. Thời gian này hoạt động Hội từng bước đi vào ổn định. Hội đã cho xuất bản tập san văn nghệ của Hội, lấy tên là ’’Quảng Bình’’, ra hai tháng 1 kỳ. Công tác xuất bản của hội viên cũng được chú ý, chẳng hạn về thơ: có ’’Thế giới bàn tay trái’’ của Hoàng Vũ Thuật; ’’Thời gian và khoảng cách’’ của Xuân Hoàng, ’’Đồng vọng’’ của Hải Kỳ, ’’Lời mùa thu’’ của Hồng Thế, về xăn xuôi có: ’’Con người thánh thiện’’ của Hữu Phương, ’’Nơi bắt đầu có gió’’ của Hoàng Thái Sơn.

Tháng 4-1993, theo chủ trương của Tỉnh ủy, tập san ’’Quảng Bình’’ của Hội VHNT và tờ báo ’’Văn hóa và đời sống’’ của Sở VHTT nhập lại thành Tạp chí ’’Văn hóa văn nghệ Quảng Bình", do Văn Lợi làm Tổng Biên tập.

- Đại hội lần thứ VI được tổ chức vào các ngày 8, 9 và 10/9/1993. BCH Hội gồm 10 người, nhà thơ Hoàng Vũ Thuật làm Chủ tịch, nhà văn Hữu Phương làm Phó Chủ tịch. Ban Thường vụ gồm 3 người: Hoàng Vũ Thuật, Hữu Phương và Văn Lợi. Tổng số hội viên có 102 người.

Hoạt động của Hội có nhiều chuyển biến tích cực, có nhiều cuộc Hội thảo như: ’’Hội thảo thơ Hồ Chủ tịch’’; Hội thảo tiểu thuyết ’’Ký ức màu đỏ’’ của Nguyễn Quang Vinh. Có nhiều trại sáng tác được tổ chức như: Trại sáng tác Nhật Lệ, kết quả của Trại đã xuất bản được tập văn thơ ’’Vùng đất khát vọng’’; Trại sáng tác của Hội Nhạc sĩ Việt Nam phối hợp tổ chức; đã xuất bản được ’’Tuyển thơ Đồng Hới’’... và nhiều tác phẩm của hội viên ra đời như: ’’Cỏ mùa thu’’ của Hoàng Vũ Thuật, ’’Đêm hoa quỳnh nở’’ của Hữu Phương, ’’Hồi ức của một binh nhì’’ của Nguyễn Thế Tường, ’’Tôi về áo ướt’’ của Lê Đình Ty, ’’Giữa hai người’’ của Lý Hoài Xuân, ’’Hoa cúc dại’’ của Hữu Phương...

Năm 1995, UBND tỉnh ra Quyết định thành lập giải thưởng VHNT của tỉnh mang tên nhà thơ lớn Lưu Trọng Lư. Năm 1996 tổ chức Lễ kỷ niệm 35 năm ngày thành lập Hội và trao giải thưởng VHNT Lưu Trọng Lư lần thứ nhất (1991-1995). Tại buổi lễ trọng thể này, toàn thể cán bộ hội viên Hội VHNT Quảng Bình vinh dự dược Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba.

Năm 1996, Tạp chí ’’Văn hóa văn nghệ’’ Quảng Bình được đổi tên thành tạp chí ’’Nhật Lệ’’. Tháng 2 năm 1997 nhà thơ Văn Lợi thôi giữ chức Tổng Biên tập để đi nhận công tác khác, nhà văn Hoàng Thái Sơn được bầu bổ sung vào BCH Hội, giữ chức Tổng Biên tập tạp chí Nhật Lệ.

- Đại hội lần thứ VII tổ chức trong 3 ngày 9, 10, 11 tháng 9 năm 1998. Ban chấp hành Hội gồm 15 người. Ban Thường vụ Hội gồm 5 người: Hữu Phương, Dương Viết Chiến, Văn Lợi, Tạ Đình Nam, Hoàng Thái Sơn. Nhà văn Hữu Phương được bầu làm Chủ tịch, nhạc sĩ Dương Viết Chiến được bầu làm Phó Chủ tịch trực, nhà văn Hoàng Thái Sơn làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng Biên tập Tạp chí Nhật Lệ. Tổng số hội viên là 168 người.

Hoạt động Hội nhiệm kỳ này đã có những chuyển biến mạnh mẽ, Hội đã thành lập Tổ Lý luận phê bình, đã tổ chức nhiều cuộc Hội thảo lớn như Hội thảo ’’Văn học Quảng Bình 10 năm đổi mới’’, Hội thảo về tập thơ ’’Đám mây lơ lửng’’ của Hoàng Vũ Thuật... Hội đã cùng với UBND các huyện thành lập các Chi hội VHNT trên địa bàn huyện.

Năm 2000, Hội đã thành lập Ban công tác hội viên cao tuổi và Ban sáng tác trẻ. Năm 2001 tổ chức Hội nghị những người viết văn trẻ Quảng Bình lần thứ I. Tháng 6 năm 1999 thành lập Chi hội Nhà văn Việt Nam do nhà văn Hữu Phương làm Chi hội trưởng. Tháng 12 năm 2000 thành lập Chi hội Mỹ thuật Việt Nam do nhà điêu khắc Phan Đình Tiến làm Chi hội trưởng. Tháng 9 năm 2003 thành lập Chi hội nhạc sĩ Việt Nam do nhạc sĩ Dương Viết Chiến làm Chi hội trưởng.

Công tác xuất bản công bố tác phẩm được đẩy mạnh hơn trước. Năm 1998 xuất bản các tuyển tập: ’’Văn xuôi Quảng Bình (1989-1998)’’; ’’Thơ Quảng Bình (1989-1998)’’, ’’Ca khúc Quảng Bình (1989-1998)’’. Năm 2001 xuất bản tuyển tập Nhà văn Việt Nam hiện đại Quảng Bình của thế kỷ XX. Các tập truyện ngắn và thơ được công chúng đặc biệt chú ý như ’’Khách má hồng’’ của Hữu Phương, ’’Đám mây lơ lửng’’ của Hoàng Vũ Thuật, ’’Bình minh mù sương’’ của Hoàng Thái Sơn, ’’Nằm đếm trời sao’’ của Hải Kỳ...

Năm 2001 Hội VHNT Quảng Bình tổ chức lễ kỷ niệm 40 năm thành lập Hội, trao giải thưởng VHNT Lưu Trọng Lư lần thứ II (1996-2001) và đón nhận Huân chương Lao động hạng nhì của Nhà nước.

Năm 2002, ca sĩ Đức Bột được Nhà nước phong tặng danh hiệu nghệ sĩ ưu tú, tháng 12/2002 nhà văn Hoàng Thái Sơn nghĩ hưu. Nhà văn Hoàng Văn Bàng lên quyền Tổng Biên tập và sau đó một thời gian là Tổng Biên tập tạp chí Nhật Lệ.

Đại hội lần thứ VIII tổ chức vào các ngày 8, 9, 10 tháng 12/2003, tổng số hội viên là 193 người, trong đó có 39 hội viên thuộc các chuyên ngành Trung ương. BCH gồm 15 người, Ban Thường vụ có 5 người: Nhà văn Hữu Phương, nhạc sĩ Dương Viết Chiến, nhà thơ Văn Lợi, nhà văn Hoàng Văn Bàng, nhà điêu khắc Phan Đình Tiến. Nhà văn Hữu Phương và Nhạc sĩ Dương Viết Chiến được bầu lại chức vụ Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội. Nhà thơ Văn Lợi, Chủ tịch Hội đồng nghệ thuật. Nhà văn Hoàng Văn Bàng phụ trách tạp chí Nhật Lệ. Nhà điêu khắc Phan Đình Tiến phụ trách Ban sáng tác trẻ.

Cuối năm 2003, UBND tỉnh có 02 quyết định quan trọng cho phép Hội thành lập tặng thưởng 2 năm 1 lần và quyết định thành lập quỹ hỗ trợ sáng tạo VHNT giao cho Hội quản lý.

Tháng 1/2007 nhạc sĩ Dương Viết Chiến nghỉ hưu, BCH bầu nhà thơ Nguyễn Bình An giữ chức vụ Phó Chủ tịch đồng thời phụ trách tạp chí Nhật Lệ thay cho nhà văn Hoàng Văn Bàng đã mất, số lượng hội viên được tăng tên 220 hội viên trong đó có hơn 50 hội viên các chuyên ngành TW.

Nhiệm kỳ này, cùng với sự nghiệp đổi mới, hội nhập quốc tế, Việt Nam chính thức gia nhập WTO. Hoạt động Hội đã phát triển lên một tầm cao mới, với nhiều hoạt động phong phú nhất từ trước tới nay, xuất hiện nhiều tác giả tên tuổi và nhiều tác phẩm VHNT đạt giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao, có tiếng vang trên văn đàn và đời sống VHNT của cả nước, về thơ như: ’’Tháp nghiêng’’ thơ của Hoàng Vũ Thuật; ’’Lục bát’’ của Hải Kỳ, ’’Ánh ngày’’ của Lý Hoài Xuân, ’’Ngày không ngờ’’ của Nguyễn Bình An; ’’Thế giới không tả lót’’ của Thái Hải. ’’Thặng dư mùa xuân’’ của Phan Văn Chương. Về Văn xuôi như: ’’Chân trời mùa hạ’’ tiểu thuyết của Hữu Phương, ’’Cháy lên từ cỏ rác’’ tiểu thuyết của Hoàng Thái Sơn; ’’Ngược dòng sông chảy’’ tiểu thuyết của Đinh Duy Tư, ’’Bến đợi nhọc nhằn’’ tập truyện của Nguyễn Hương Duyên, ’’Về với mẹ’’, ’’Tổ chim trên sóng’’ tiểu thuyết của Hoàng Bình Trọng. Về nghiên cứu văn hóa có: ’’Địa chí Làng Văn La’’ của Đỗ Duy Văn, ’’Địa chí văn hóa miền biển’’ của Nguyễn Tú, ’’Địa chí Làng Đức Phổ’’ của Đặng Kim Liên, ’’Địa chí Làng Cao Lao Hạ’’ của Lê Văn Sơn, ’’Những nét đẹp văn hóa cổ truyền Quảng Bình’’ của Nguyễn Tú...

Về Mỹ thuật có: ’’Tượng đài Mẹ Suốt’’ của Phan Đình Tiến cùng với các tác phẩm liên tục được tham dự các triển lãm và đoạt giải thưởng triển lãm Mỹ thuật toàn quốc. Cùng các tác phẩm dự trại điêu khắc toàn quốc và quốc tế của anh được đặt tại nhiều thành phố trong cả nước, cùng các tác phẩm hội họa của Đoàn Văn Thịnh, tranh cổ động của họa sĩ Lê Anh Tân và các tác phẩm điêu khắc của nhà điêu khắc trẻ Lê Ngọc Thái...

Đã xuất hiện nhiều tác giả trẻ đầy triển vọng như Nguyễn Hương Duyên, Nguyễn Thị Lê Na, Hoàng Đăng Khoa... Hội đã xuất bản nhiều tuyển tập ’’Tuyển tập Mỹ thuật nhiếp ảnh Quảng Bình đương đại’’, Tuyển tập văn xuôi ’’Nước chảy chân cầu’’, tuyển tập thơ ’’Bài ca đàn chim lạc’’, Tuyển tập ca khúc ’’Quảng Bình quê ta ơi’’

Xem thêm:
Thông tin hoạt động của đơn vị
[Trở về]