Bản in     Gởi bài viết  
Người lữ hành xuyên thế kỷ

Thế kỷ XX là một thế kỷ đầy bão táp, biến động. Hai cuộc chiến tranh thế giới 1914-1918, 1939-1945. Cách mạng Tháng 10 Nga và sự ra đời của hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa. Phong trào sôi sục của loài người bị áp bức đấu tranh phá bỏ gông xiềng chủ nghĩa thực dân.

Ngày 25 tháng 8 năm 1911 tại làng An Xá, huyện Lệ Thủy, Quảng Bình, cậu bé Võ Nguyên Giáp cất tiếng chào đời. Cậu là con ông Võ Quang Nghiêm và bà Nguyễn Thị Kiên. Ông Nghiêm là nhà nho dạy chữ Hán và bốc thuốc chữa bệnh. Làng An Xá có công điền cứ ba năm chia lại một lần. Gia đình ông Nghiêm đông con sống tùng tiệm đủ ăn với hai mẫu rưỡi ruộng chia, trừ những tháng giáp hạt phải đi vay.

Nước Việt Nam đã bị thực dân Pháp xâm lược. Ông ngoại Giáp tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp. Tuổi thơ, Giáp được nghe mẹ kể mỗi lần giặc Pháp kéo tới, bà ngoại đặt các con hai đầu quang, gánh chạy khỏi làng. Mẹ hay kể bài vè "Thất thủ kinh đô’’. Bài vè Giáp nghe từ thuở ấu thơ sẽ mãi mãi không phai mờ trong tâm trí.

Cậu Giáp rất thông minh. Sau khi đỗ sơ học yếu lược, Giáp chỉ học một năm lớp nhì, bỏ năm lớp nhì thứ hai, lên thẳng lớp nhất, khi thi tốt nghiệp sơ học vẫn đỗ đầu tỉnh. Ông Nghiêm muốn cho con học tập nên người. Nhờ có hai chị gánh hàng xén chạy chợ, năm 13 tuổi, Giáp được vào Huế học tại trường Quốc học.

Ở trường, Giáp tháng nào cũng đứng đầu lớp. Một tháng anh đứng thứ nhì, các thầy và bạn đều ngạc nhiên. Nhưng việc học không phải 1à điều quan tâm duy nhất của anh. Phong trào cách mạng ở Huế thời đó rất sôi nổi, nhất là từ khi thực dân Pháp đưa nhà cách mạng Phan Bội Châu về giam lỏng bên dòng sông Hương. Nhiều học sinh tham gia các cuộc đấu tranh đòi thả Phan Bội Châu, để tang Phan Chu Trinh... Giáp cũng ở trong số này.

Tháng 4 năm 1927, một cuộc bãi khóa diễn ra tại trường Quốc học Huế. Giáp có người bạn thân, lớn hơn ba tuổi, là Nguyễn Chí Diểu. Diểu hay chia sẻ với anh sự bất bình trước cách giáo dục kiểu thực dân nhằm tạo nên những tay sai trung thành với "mẫu quốc". Diểu bị giám thị chú ý, coi là kẻ cầm đầu những cuộc đấu tranh ở nhà trường. Nhân một buổi thi toán, một viên giám thị vu cho Diểu chép trộm bài của bạn và đuổi ra khỏi lớp.

Giáp và các bạn làm đơn yêu cầu nhà trường không được đuổi học Diểu. Đơn bị trả lại. Giáp bàn với Nguyễn Khoa Văn (tức Hải Triều) tổ chức bãi khóa. Cuộc bãi khóa của trường Quốc học nhanh chóng trở thành tổng bãi khóa của học sinh tại Huế. Nhiều nam nữ học sinh bị bắt. Sau một tuần, nhà cầm quyền nhượng bộ thả những học sinh bị bắt, nhưng kiên quyết đuổi học những người bị chúng coi là cầm đầu, trong đó có Nguyễn Chí Diểu, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Hải Triều...

Giáp đi lang thang vào Quảng Nam, Bình Định, ở Huế thêm một thời gian rồi buộc phải quay trở lại quê nhà trong tâm trạng bế tắc.

Bỗng một hôm Nguyễn Chí Diểu tìm về An Xá gặp Giáp. Diểu đem theo một tập tài liệu về "Liên đoàn các dân tộc bị áp bức trên thế giới", một số văn bản cuộc họp Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Quảng Châu trong đó có bài nói chuyện của Nguyễn Ái Quốc. Diểu nói sau khi bị đuổi học, đã tham gia Tân Việt Cách mạng Đảng, hiện có cơ sở ở Huế, và cho Giáp xem chương trình và điều lệ của Đảng. Một con đường mới đã mở ra trước mắt anh.

Giữa năm 1928, Giáp trở lại Huế. Bề ngoài, anh là thư ký của Nhà xuất bản Quan Hải Tùng Thư, ở phố Đông Ba. Đây là một cơ sở của Đảng Tân Việt, Giáp sinh hoạt trong một tiểu tổ bí mật. Anh bắt đầu có điều kiện tiếp xúc với những học thuyết kinh tế, xã hội, dân tộc, cách mạng. Anh bị cuốn hút bởi những bài của Nguyễn Ái Quốc, đặc biệt là cuốn "Bản án chủ nghi thực dân Pháp", và tờ báo ’’Người cùng khổ" (Le Paria). Ngay từ năm 1929, Giáp đã là một thành viên của nhóm hạt nhân trong Đảng Tân Việt, tích cực vận động cho tổ chức này gia nhập Đảng Cộng sản. Anh viết báo "Tiếng dân" tuyên truyền cho chủ nghĩa Mác. Nhà cầm quyền theo dõi sít sao những hoạt động của anh.

Sau cuộc khởi nghĩa Xô Viết Nghệ Tĩnh, thực dân Pháp tăng cường khủng bố. Tháng 10 năm 1930, Võ Nguyên Giáp cùng với nhiều người bị bắt, trong đó có thầy Đặng Thai Mai, và một số bạn ở trường Quốc học. Anh bị kết án hai năm tù giam. Cuối năm 1931, do Hội Cứu tế Đỏ Pháp đấu tranh đòi thả tù chính trị phạm, nhà cầm quyền thả những tù chính trị bị kết án từ ba năm trở xuống. Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp và một số người khác được tha. Thầy Mai thôi dạy ở trường Quốc học Huế, trở về Vinh. Võ Nguyên Giáp bị giải về quê hương tại An Xá.

Giáp đã sang tuổi hai mươi. Lần này, anh chỉ trở về nhà một thời gian ngắn rồi tìm cách ra Vinh để tiếp tục chí hướng của mình. Với sự giúp đỡ của thầy Đặng Thai Mai, anh kiếm được việc làm tạm thời. Năm 1932, thầy Mai chuyển ra dạy học tại Hà Nội. Giáp cũng ra theo. Anh đã rời ghế nhà trường từ năm thành chung thứ hai. Anh quyết dành mười tháng học thi tú tài phần thứ nhất với tư cách là thí sinh tự do, và đỗ hạng ưu. Võ Nguyên Giáp bắt đầu dạy học tại trường Thăng Long cùng với thầy Mai.

Năm 1936, Mặt trận bình dân ở Pháp lên cầm quyền buộc chính quyền thực dân ở Đông Dương phải thực hiện một số cải cách dân chủ. Anh tham gia nhiều cuộc đấu tranh công khai của Đảng. Trên lĩnh vực văn hóa, anh viết cho nhiều tờ báo của Đảng bằng tiếng Việt và tiếng Pháp, trở thành Chủ tịch Ủy ban Báo chí Bắc Kỳ. Sức làm việc của anh rất kỳ lạ. Anh có thể viết suốt 24 giờ toàn bộ một số báo "Letravail" để hôm sau đưa tới nhà in.

Cuối năm 1939, Chính phủ Bình dân ở Pháp bị đánh đổ. Chủ nghĩa phát xít đe dọa thế giới trong đó có nước Pháp. Nhà cầm quyền Đông Dương đàn áp phong trào cách mạng đã có dịp trỗi dậy trong thời gian qua. Chính lúc này, Hoàng Văn Thụ, Ủy viên Thường vụ của Đảng Cộng sản Đông Dương, khuyên anh nên ra nước ngoài, nơi anh sẽ có dịp gặp Nguyễn Ái Quốc. Mùa hè năm 1940, anh lên đường để lại người bạn đời, người đồng chí, và một đứa con gái mới sinh. Chị Thái hẹn khi con cứng cáp sẽ đi hoạt động thoát ly. Họ chưa biết lần chia tay này chính là lần vĩnh biệt.

Như một sự tiền định, đến Vân Nam, Võ Nguyên Giáp được gặp Nguyễn Ái Quốc, lúc này đã mang tên Hồ Chí Minh. Chỉ một thời gian ngắn, Bác thấy anh chính là người cần cho chặng đường cách mạng sắp tới. Bác liên hệ với Đảng Cộng sản Trung Quốc và cử anh đi học quân sự tại căn cứ địa Diên An. Trên đường tới Diên An, anh được Bác gọi quay lại. Phát xít Đức đã xâm chiếm nước Pháp. Bác nhận định tình hình Đông Dương sẽ chuyển biến nhanh, cần gấp rút trở về nước chuẩn bị đón thời cơ. Năm 1941, đúng dịp Tết, Bác trở về nước. Trong thời gian này, ở hang rừng ẩm lạnh Pác Bó, Bác tiên đoán cách mạng sẽ thành công vào năm 1945, một bí mật trong thiên tài của Hồ Chí Minh.

Những năm đầu ở Cao Bằng. Võ Nguyên Giáp được giao nhiệm vụ xây dựng cơ sở cách mạng trong đồng bào các dân tộc thiểu số và mở một con đường Nam tiến bắt liên lạc với phong trào cách mạng miền xuôi. Có lẽ đây là sự kiểm nghiệm cuối cùng của Bác đối với anh. Anh đã hoàn thành nhiệm vụ cực kỳ xuất sắc. Cơ sở cách mạng ở Cao Bằng đã nhanh chóng mở rộng. Năm 1944, Cao Bằng đã có nhiều xã, tổng, châu toàn thể cư dân đã tham gia những Hội cứu quốc của Việt Minh. Con đường Nam tiến xuyên qua những triền núi cao Phia Uắc, Phia Bióoc đã nối với miền xuôi ở chợ Chu.

Tháng 12 năm 1944, Bác trao cho Võ Nguyên Giáp nhiệm vụ xây dựng đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, mà như lời tiên đoán của Người: "Nó là khởi điểm của Giải phóng quân, nó sẽ đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam’’. Bác đã thấy trước từ đội quân bé nhỏ này một quân đội cách mạng sẽ ra đời để làm nhiệm vụ lịch sử chiến đấu giải phóng dân tộc. Chỉ hai ngày sau khi thành lập, đội quân nhỏ với vũ khí rất thô sơ, chưa hề qua huấn luyện, dưới sự chỉ đạo của Võ Nguyên Giáp đã liên tiếp tiêu diệt hai đồn binh Phai Khắt và Nà Ngần do sĩ quan Pháp chỉ huy. Con đại bàng mới sinh bất thần tung cánh bay cao!

Chúng ta sẽ không ngạc nhiên trước ngày toàn quốc kháng chiến, trong một cuộc họp của Trung ương Đảng, vấn đề đặt ra: "Ai sẽ là Tổng chỉ huy?", Bác rõ ràng đã có dự kiến, nói ngay: "Chú Văn có thể làm được". Lúc đó, đội ngũ cán bộ của Đảng không phải không có một số người đã từng được đào tạo ít nhiều về quân sự. Sau 35 năm đi tìm đường cứu nước, Bác đã nhận thấy: muốn đưa dân tộc thoát khỏi kiếp đọa đày chỉ còn cách dựa vào chính sức mạnh của đồng bào mình, tiến hành một cuộc chiến đấu toàn dân, toàn diện, và lâu dài với kẻ thù. Những điều trên đây chưa có tiền lệ trong lịch sử, do đó chưa có trường học. Chỉ với tầm nhìn của Bác, mới phát hiện ở người cán bộ Đảng 35 tuổi, chưa qua một trường quân sự, khả năng biến những tư tưởng của Người thành sự thực.

Chỉ hai năm sau chiến tranh, đội quân gồm hầu hết là những người dân lần đầu cầm vũ khí, có thể bị đánh tan trong vài ngày, đã đương đầu thắng lợi với quân đội hiện đại Pháp trong trận tổng giao chiến đầu tiên tại các thành phố, thị trấn, và một năm sau, tiếp tục đánh bại cuộc tiến công chiến lược lớn nhất vào căn cứ địa Việt Bắc. Đây cũng là cuộc tiến công duy nhất của quân Pháp vào khu căn cứ địa trong suốt kháng chiến chống Pháp. Cùng với chiến thắng Việt Bắc, ta đã đập tan chiến lược "đánh nhanh thắng nhanh" của địch.

Năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh phong quân hàm Đại tướng cho Tổng chỉ huy lực lượng vũ trang Việt Nam Võ Nguyên Giáp.

Những chiến dịch Biên Giới, Hòa Bình, Tây Bắc, Thượng Lào..., rồi Điện Biên Phủ, dưới sự chỉ huy trực tiếp của Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, đã lần lượt đánh bại bảy tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp, trong đó có những viên tướng lừng danh, kết thúc kháng chiến chống Pháp, báo hiệu buồi chiều tàn của chủ nghĩa thực dân trong thế kỷ XX.

Những chiến dịch Tổng tiến công năm 1968, Đường 9 - Nam Lào năm 1971, Điện Biên Phủ trên không năm 1972, Tổng tiến công giành toàn thắng năm 1975 trong kháng chiến chống Mỹ, là những mẫu mực thành công kế tiếp của tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh, mang đậm dấu ấn của Tổng tư lệnh hai cuộc kháng chiến Võ Nguyên Giáp.
Tài năng của Võ Nguyên Giáp biểu hiện ở chỗ biết phát huy truyền thống đánh giặc của cha ông trong thời đại mới, lấy yếu chống mạnh, lấy ít cự nhiều, lấy binh lực nhỏ đánh thắng trận lớn, và đánh chắc thắng. Ông là người chủ soái biết phát hiện và phát huy đầy đủ sức mạnh của toàn thể lực lượng vũ trang, từ cán bộ đến chiến sĩ chủ lực, địa phương, dân quân du kích, các quân chủng, binh chủng trong cuộc chiến đấu hợp đồng toàn dân với những kẻ thù có sức mạnh vật chất vượt qua ta một quá trình phát triển lịch sử. Đạo đức người cầm quân ở ông là biết quý từng giọt máu của cán bộ, chiến sĩ, gắn bó với đồng đội, với nhân dân như tình ruột thịt. Sự trung thành của ông đối với dân tộc, với Đảng là tuyệt đối.

Nhà sử học người Anh, Peter Macdonald, viết: "Võ Nguyên Giáp đã có 30 năm làm tổng tư lệnh quân đội và gần năm mươi năm tham gia vào những suy tính chính trị ở cấp cao nhất: đó là hai sự kiện chưa từng có trong lịch sử. Vả lại, khó so sánh ông với những tướng lĩnh khác, sự kết hợp giữa chiến tranh du kích và chiến tranh chính quy ở một trình độ như vậy trước đây chưa từng có’’ (Bản tiếng Pháp: "GIAP Lesdeux guerres d’Indochine’’, Peter Macdonald, Perrin, Paris, 1992).

Tài năng của ông còn vượt ra ngoài lãnh vực quân sự, ở bất cứ nhiệm vụ nào: ngoại giao, nội chính, khoa học, văn hóa, tư tưởng... được trao, hoặc có điều kiện tham gia, ông đều có những đóng góp đáng trân trọng. Ông làm việc gần như không có giây phút ngơi nghỉ, vì ông không ngừng nghĩ đến cái chung, đến sự nghiệp của dân tộc, của Đảng.
Ông là người phát hiện và đề ra rất sớm: những thách thức lớn trong công cuộc chiến đấu giữ nước cũng như xây dựng đất nước đều có thể vượt qua nếu biết vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh.

Ông để lại một dấu ấn lâu bền trong suốt chiều dài thế kỷ, cùng với thời gian, cuộc đời và sự nghiệp của ông càng được khẳng định.

Nguồn: Sách "Đại tướng Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp"

[Trở về]