Bản in     Gởi bài viết  
Những đổi thay của đồng bào dân tộc thiểu số miền núi, vùng cao, biên giới 
(Quang Binh Portal) - Toàn tỉnh có 6.145 hộ đồng bào dân tộc thiểu số với 25.713 khẩu (chiếm 2,4% dân số trên địa bàn tỉnh), sinh sống tập trung ở 106 thôn, bản thuộc 17 xã miền núi, vùng cao, biên giới và một bộ phận xen ghép với người Kinh ở các huyện Tuyên Hóa, Minh Hóa, Bố Trạch, Quảng Ninh và Lệ Thủy. Trong những năm qua, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn nhưng nhờ sự quan tâm giúp đỡ của các Bộ, ngành Trung ương, lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh, sự phối hợp của các ngành, các cấp và sự nỗ lực của đồng bào các dân tộc nên tình hình kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh tiếp tục ổn định, có bước phát triển.
Nhờ thực hiện từ các chương trình, chính sách lớn về phát triển kinh tế - xã hội cho vùng dân tộc thiểu số, miền núi như Chương trình 135, Quyết định số 755/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và hộ nghèo ở xã, thôn bản đặc biệt khó khăn; Nghị quyết 30a của Chính phủ đối với huyện nghèo Minh Hóa... nên kết cấu hạ tầng vùng đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh được đầu tư tương đối đồng bộ từ “điện, đường, trường, trạm”, tạo nên một diện mạo mới cho vùng dân tộc thiểu số phát triển. Đến nay, 100% số xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số có đường ô tô về trung tâm xã được nhựa hóa, bê tông hóa; các tuyến Quốc lộ, tỉnh lộ liên kết thành mạng lưới giao thông thuận tiện, nhiều bản đã có đường giao thông đã được cứng hóa... tạo điều kiện cho giao thương giữa các vùng, miền; 100% số xã có trường tiểu học, trung học cơ sở, mầm non và trạm y tế được xây dựng kiên cố; 100% xã được phủ sóng phát thanh, 90% xã phủ sóng truyền hình; mạng điện thoại di động và mạng Internet đã về đến trung tâm xã; 15/17 xã có điện lưới Quốc gia với tỷ lệ hộ dùng điện đạt trên 80%, khu vực trung tâm và một số bản ở 02 xã Tân Trạch, Thượng Trạch được sử dụng điện mặt trời. Hệ thống chợ trung tâm cụm xã, chợ xã được đầu tư xây dựng tạo thuận lợi cho việc trao đổi, giao thương hàng hóa cho đồng bào.

Nhờ kết cấu hạ tầng kỹ thuật được tăng cường nên sản xuất của vùng đồng bào dân tộc thiểu số có bước phát triển khá hơn trước, nhất là sản xuất nông, lâm nghiệp có nhiều chuyển biến tích cực. Một bộ phận đồng bào đã chuyển đổi tập quán sản xuất từ sản xuất nương rẫy sang sản xuất thâm canh lúa nước, lương thực, thực phẩm, đặc biệt các tộc người như Rục, Khùa, Mày, Ma Coong, Mã Liềng... Hiện nay, vùng đồng bào dân tộc có gần 290 ha lúa nước 2 vụ, sản lượng bình quân đạt 40 tạ/ha. Nhiều hộ đã xây dựng mô hình kinh tế trang trại tổng hợp, cải tạo vườn đồi, trồng rừng kinh tế kết hợp với chăn nuôi gia súc, gia cầm. Chăn nuôi có bước phát triển, đàn gia súc có hơn 25.000 con, tăng 1,14 lần, đàn gia cầm trên 49.500 con, tăng 1,1 lần so với năm 2014,... Số hộ đồng bào dân tộc thiểu số làm ăn khá giỏi ngày càng tăng. Hiện có hơn 750 hộ làm ăn khá, giỏi (tăng 10,07% so với năm 2014), trong đó có 540 hộ có thu nhập trên 30 triệu đồng/năm, hơn 220 hộ có thu nhập trên 70 triệu đồng/năm. Tiêu biểu là các ông Hồ Soa, Hồ Văn Ngọ, Hồ Văn Pan, Hồ A Lai, Hồ Văn Thương, Nguyễn Văn Ba, Đinh Hợp, các bà Hồ Thị Lan, Hồ Thị Thanh, Y Quyết (dân tộc Bru - Vân Kiều); ông Cao Duy Ư, Trần Văn Tư, Đinh Rầu, Y Đan, Cao Tiến Thuỳnh, bà Phạm Thị Lâm (dân tộc Chứt); Bàn Văn Sơn dân tộc Thổ và nhiều cá nhân tiêu biểu khác.
Công tác giao đất, giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số đã được cấp ủy, chính quyền các cấp quan tâm chỉ đạo giải quyết. Tình trạng thiếu đất sản xuất ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số từng bước đã được giải quyết, giúp cho nhiều hộ gia đình có thêm điều kiện để phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập, góp phần xóa đói, giảm nghèo. Công tác xóa nhà tạm, nhà ở dột nát cho các hộ được triển khai có hiệu quả. Riêng trong năm 2019, từ các chương trình, toàn tỉnh đã hỗ trợ trên 4.200 triệu xây dựng 43 nhà cho đồng bào dân tộc thiểu số bị thiệt hại do thiên tai ở xã Trọng Hóa và Dân Hóa (mức 85 - 90 triệu/nhà) và sửa chữa điểm Trường Mầm non Cha Lo, xã Dân Hóa; hỗ trợ trên 1.300 triệu đồng xây dựng 10 nhà ở và 01 điểm trường ở xã Trường Sơn, huyện Quảng Ninh; hỗ trợ gần 900 triệu đồng xây dựng mới 01 nhà và sửa chữa 07 nhà ở xã Lâm Thủy, huyện Lệ Thủy.

Với sự quan tâm đầu tư, hỗ trợ của Đảng, Nhà nước và tỉnh, bằng nhiều giải pháp đồng bộ, kịp thời và sự vào cuộc quyết liệt, kịp thời của cả hệ thống chính trị, công tác xóa đói, giảm nghèo, xây dựng cơ sở hạ tầng ở vùng dân tộc thiểu số cơ bản đã đạt mục tiêu đề ra. Hộ nghèo bình quân hàng năm giảm 4 - 5%. Đến cuối năm 2018, còn 71,2% hộ nghèo theo chuẩn mới.

Ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã xuất hiện nhiều điểm sáng trong phong trào xây dựng đời sống văn hóa ở vùng cao, tiêu biểu như các bản Cây Bông, Khe Khế, Tân Ly, Khe Giữa (huyện Lệ Thủy); Khe Dây, Khe Cát, Sắt (huyện Quảng Ninh); Lương Năng, Ông Tú, Y Leng, Bãi Dinh, La Trọng I (huyên Minh Hóa). Đến nay có 3.665/7.174 hộ được công nhận “gia đình văn hóa”, 48/116 bản đạt danh hiệu “thôn, bản văn hóa” các cấp; 106/116 thôn bản các xã đồng bào dân tộc thiểu số xây dựng hương ước, quy ước.

Công tác bảo tồn, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số từng bước được quan tâm. Một số lễ hội văn hóa, làn điệu dân ca, nhạc cụ truyền thống đặc sắc của các dân tộc thiểu số đã được khôi phục. Hiện nay, các địa bàn còn gìn giữ được lễ hội truyền thống như: Đập trống của người Ma Coong ở xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch; Lấp lỗ của người Vân Kiều ở huyện Quảng Ninh, huyện Lệ Thủy. Một số làn điệu dân ca, nhạc cụ truyền thống được bảo tồn hò thuốc cá, hát nhà trò, hát đúm, hát ví ở Minh Hóa; sáo sui của người Vân Kiều ở huyện Quảng Ninh...

Hệ thống chính trị cơ sở vùng đồng bào dân tộc tiếp tục được củng cố. Công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng và phát triển đảng viên được quan tâm. Đến nay đã xóa được điểm trắng về tổ chức Đảng và đảng viên. Từ năm 2014 đến nay đã kết nạp thêm 382 đảng viên, đưa tổng số đảng viên người dân tộc thiểu số lên 1.028 người (tăng gần 59%). Đến cuối năm 2018, không còn bản trắng về Chi bộ.

Đồng bào dân tộc thiểu số nói chung và Nhân dân các xã biên giới nói riêng đã tích cực tham gia phong trào bảo vệ cột mốc, đường biên, cung cấp cho cơ quan chức năng nhiều nguồn tin quan trọng trong việc đấu tranh, ngăn chặn vận chuyển ma túy, vật liệu nổ qua biên giới, vượt biên trái phép. Dân quân và đồng bào dân tộc thiểu số các xã biên giới cùng với Bộ đội Biên phòng tổ chức hàng trăm lần phát quang đường biên giới, mốc giới; vận chuyển hàng tấn vật liệu để đúc, cắm biển báo “Khu vực biên giới, vành đai biên giới” và công trình phòng thủ biên giới. Các xã, thôn bản vùng biên giới đều thành lập tổ tham gia phong trào tự quản đường biên, cột mốc và an ninh trật tự ở khu vực biên giới. Tình đoàn kết giữa các dân tộc được thắt chặt và củng cố; đồng bào các dân tộc tin tưởng vào chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; an ninh, quốc phòng vùng đồng bào dân tộc thiểu số được giữ vững, góp phần bảo vệ vững chắc an ninh biên giới.

Một trong những nhân tố góp phần làm thay đổi nhận thức và diện mạo mới cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số đó là đội ngũ người có uy tín, già làng, trưởng bản, trưởng các dòng họ. Nhiều người có uy tín đã thực sự trở thành trung tâm đoàn kết các dân tộc, là chỗ dựa tinh thần của bà con dân bản, tiêu biểu như ông Hồ Pung (xã Trọng Hóa), ông Cao Tiến Thuỳnh, ông Trần Văn Tư (xã Thượng Hóa), Cao Quý Nhèng, Hồ Bông (xã Dân Hóa), bà Cao Thị Vân (xã Lâm Hóa), ông Đinh Xầm (xã Thương Trạch), ông Hồ Tư, ông Hồ Thao (xã Trường Xuân), ông Hồ Xen (xã Trường Sơn), ông Hồ Văn Bạch, Hồ Chờ (xã Kim Thủy), Hồ Bình Hiền (xã Ngân Thủy), ông Hoàng Bảo (xã Lâm Thủy) và nhiều người có uy tín tiêu biểu khác.

Tin rằng, với sự phối hợp kịp thời của các ngành, các cấp và sự nỗ lực, ý thức tự vươn lên của đồng bào các dân tộc, đời sống vật chất và tinh thần của bà con sẽ ngày càng được cải thiện, giảm dần khoảng cách với các vùng, miền...

Hồng Lựu

[Trở về]
Thông tin nổi bật

CON SỐ - SỰ KIỆN