VĂN BẢN MỚI

Thông tin tra cứu
    Bản in     Gởi bài viết  
Những kết quả đạt được trong thực hiện Nghị quyết 02/NQ-TW của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020 
(Quang Binh Portal) - Thực hiện Nghị quyết 02/NQ-TW ngày 25/4/2011 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, trong những năm qua, tỉnh đã ban hành các chương trình hành động, kế hoạch, văn bản chỉ đạo để tổ chức triển khai thực hiện, qua đó công tác quản lý Nhà nước về khoáng sản trên địa bàn đã có những chuyển biến rõ nét; tình trạng cấp phép tràn lan cơ bản được khắc phục; việc khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm khoáng sản ngày càng được ưu tiên; công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản được thực hiện có hiệu quả, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống Nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương. 
Xác định rõ khoáng sản là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội, tỉnh đã tích cực đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về khoáng sản và các pháp luật khác có liên quan, góp phần nâng cao nhận thức của cơ quan, tổ chức, cá nhân về vai trò, tầm quan trọng của khoáng sản và hoạt động khoáng sản. Cùng với đó, tỉnh cũng xây dựng chính sách khuyến khích thu hút đầu tư của các thành phần kinh tế, đổi mới thiết bị, công nghệ để thực hiện có hiệu quả quy hoạch về thăm dò, khai thác khoáng sản; khuyến khích đầu tư các dự án khai thác, chế biến khoáng sản có công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, dự án khai thác, chế biến quặng nghèo, sử dụng triệt để và tiết kiệm khoáng sản; đồng thời có cơ chế ưu đãi trong việc nghiên cứu, phát hiện công dụng mới của các loại khoáng sản và ứng dụng vào sản xuất. Nhờ đó, đã hạn chế và tiến tới chấm dứt tình trạng đầu tư, khai thác khoáng sản manh mún, nhỏ lẻ, kém hiệu quả; chỉ cho phép các tổ chức, cá nhân có vốn đầu tư lớn, năng lực quản lý công nghệ hiện đại tham gia thăm dò khai thác, chế biến khoáng sản quan trọng, chiến lược; hạn chế liên doanh với các công ty nước ngoài trong khai thác. Năm 2015, toàn tỉnh có 01 Giấy phép thăm dò của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc thăm dò mỏ titan sa khoáng tại khu vực Tây Liêm Bắc, Đông Sen Thủy, xã Sen Thủy và Ngư Thủy Nam, huyện Lệ Thủy; diện tích thăm dò là 391 ha; tổng trữ lượng 237,37 nghìn tấn, trong đó nhóm khoáng vật titan 206,44 nghìn tấn; Zircon 29,01 nghìn tấn, monazit 1,93 nghìn tấn. Về xuất khẩu khoáng sản, tỉnh đã xuất khẩu quặng titan, sa khoáng 33,7 nghìn tấn. Khai thác chế biến theo nhu cầu trong nước, quặng mangan 11,967 nghìn tấn.

Công tác lập quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản thuộc thẩm quyền cũng được triển khai thực hiện đúng quy định. Đến nay, UBND tỉnh đã phê duyệt và ban hành 03 Quyết định về quy hoạch thăm dò, khai thác, sử dụng khoáng sản tỉnh Quảng Bình; 01 Quyết định phê duyệt khu vực cấm hoạt động khoáng sản; 01 Quyết định phê duyệt khu vực không đấu giá quyền khai thác khoáng sản. Công tác cấp phép hoạt động khoáng sản ngày được đẩy mạnh theo hướng cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng thẩm định hồ sơ, bảo đảm tuân thủ các quy định của pháp luật về khoáng sản. Tỉnh đã cấp 87 Giấy phép thăm dò khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường; 79 Giấy phép khai thác khoáng sản; thu hồi 06 Giấy phép khai thác khoáng sản; trả lại một phần diện tích khai thác khoáng sản 04 dự án; chuyển nhượng quyền khai thác khoáng sản 04 dự án.

Lãnh đạo tỉnh kiểm tra công tác phục hồi môi trường sau khai thác Titan tại huyện Lệ Thủy

Bên cạnh đó, thực hiện đổi mới cơ chế chính sách tài chính của Nhà nước đối với công tác thăm dò, khai thác, chuyển nhượng khoáng sản, địa phương đã xây dựng cơ chế chính sách đầu tư kinh phí từ ngân sách Nhà nước, vốn của các tổ chức, cá nhân cho công tác thăm dò khoáng sản; xác định đúng giá trị tài nguyên khoáng sản được khai thác; thực hiện tốt đấu giá quyền khai thác khoáng sản, đảm bảo lợi ích của Nhà nước, phù hợp với đặc điểm từng loại khoáng sản. Toàn tỉnh đã tổ chức đấu giá quyền khai thác khoáng sản đối với 04 khu vực cát, sỏi làm vật liệu xây dựng thông thường, thu về cho ngân sách Nhà nước gần 2,3 tỷ đồng; năm 2016 đã thực hiện đấu giá thành công 07 khu vực mỏ với tổng diện tích 89 ha. Hiện tại, các tổ chức, cá nhân trúng đấu giá đang tiến hành thăm dò, đánh giá trữ lượng khoáng sản để có cơ sở nộp tiền trúng đấu giá theo quy định. Việc thu, chi nguồn phí, lệ phí đối với hoạt động khoáng sản cũng được hiện nghiêm túc theo quy định. Từ khi Luật Khoáng sản có hiệu lực đến nay, Sở Tài nguyên và Môi trường đã thu phí, lệ phí đối với hoạt động khoáng sản là hơn 4,5 tỷ đồng, nộp ngân sách gần 4,4 tỷ đồng; UBND tỉnh cũng đã ban hành 160 Quyết định phê duyệt tiền cấp quyền khai thác khoáng sản với tổng tiền gần 526 tỷ đồng.

Cùng với hoạt động khai thác khoáng sản, công tác bảo vệ khoáng sản chưa khai thác cũng được chú trọng. Sở Tài nguyên và Môi trường đã phối hợp với các địa phương tích cực kiểm tra chấn chỉnh hoạt động khai thác khoáng sản trái phép, đặc biệt là kiểm tra, truy quét, xử lý hiệu quả tình trạng khai thác trái phép cát, sỏi lòng sông. Sở cũng đã tổ chức và phối hợp với các ban, ngành ở địa phương, Bộ Tài nguyên và Môi trường tiến hành 13 cuộc kiểm tra, thanh tra công tác hoạt động khoáng sản trên địa bàn tỉnh. Kết quả đã phát hiện và xử lý vi phạm hành chính 87 trường hợp với số tiền trên 02 tỷ đồng, qua đó góp phần nâng cao nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật của các tổ chức, cá nhân, đưa hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn ngày càng đi vào nề nếp, đúng luật và hiệu quả.

Đối với công tác quản lý môi trường, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường liên quan đến hoạt động khoáng sản cho 39 dự án khai thác khoáng sản, hướng dẫn Phòng Tài nguyên và Môi trường các huyện, thành phố trong công tác xác nhận bản cam kết bảo vệ môi trường cho 40 dự án khai thác khoáng sản. Việc ký Quỹ phục hồi môi trường của các tố chức, cá nhân hoạt động khai thác khoáng sản được thực hiện theo cam kết trong Dự án cải tạo phục hồi môi trường của dự án. Đến nay, tổng số tiền ký Quỹ phục hồi môi trường là gần 10,5 tỷ đồng.

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý Nhà nước trong lĩnh vực khoáng sản vẫn còn một số hạn chế như việc lập quy hoạch khoáng sản đối với các khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ gây khó khăn cho công tác quản lý và cấp phép hoạt động khoáng sản; hoạt động đấu giá quyền khai thác khoáng sản còn bất cập do chưa có hướng dẫn thỏa thuận để giải phóng mặt bằng đất trước khi đưa mỏ vào đấu giá; sự phối hợp hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho nhà đầu tư chưa được chú trọng kịp thời, ảnh hưởng đến cơ hội đầu tư và không khuyến khích các nhà đầu tư mở rộng quy mô thăm dò, khai thác; công tác đền bù, giải phóng mặt bằng cho các tổ chức được cấp phép thực hiện còn chậm; hoạt động khai thác, vận chuyển, tiêu thụ khoáng sản trái phép vẫn xảy ra tại một số địa phương nhưng việc phát hiện, ngăn chặn chưa kịp thời, xử lý chưa nghiêm, gây thất thoát tài nguyên và thất thu ngân sách...

Để hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết số 02-NQ/TW ngày 25/4/2011 của Bộ Chính trị về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 đề ra, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ cả trong nhận thức và hành động cho cấp ủy, chính quyền, mặt trận, đoàn thể các cấp, ngành, tổ chức, cá nhân trong tỉnh, thời gian tới, tỉnh tiếp tục tăng cường đầu tư từ ngân sách hàng năm để điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản nhằm phát hiện nhiều loại khoáng sản phục cho phát triển kinh tế xã hội; đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến pháp luật về khoáng sản nhằm làm rõ vị trí, vai trò của ngành công nghiệp khai khoáng đối với sự phát triển chung của tỉnh, tiếp tục triển khai đấu giá quyền khai thác khoáng sản tại các mỏ thuộc thẩm quyền cấp phép của UBND tỉnh.

Mặt khác, tỉnh cũng tập trung nghiên cứu cụ thể hóa cơ chế, chính sách để phát triển công nghiệp khai khoáng theo hướng sử dụng công nghệ tiến tiến, hiện đại, thân thiện với môi trường; có cơ chế thu hút các thành phần kinh tế trong nước đầu tư vào công tác điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản; thực hiện tốt việc quản lý hoạt động khoáng sản, bảo đảm sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả khoáng sản, đáp ứng yêu cầu trước mắt và lâu dài, gắn khai thác với chế biến sâu, bảo vệ môi trường; tăng cường sự phối hợp giữa các ngành, các cấp trong công tác quản lý Nhà nước về khoáng sản trong tất cả khâu thăm dò, khai thác, chế biến, vận chuyển, tiêu thụ và xuất khẩu...; chú trọng nhân lực, đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị để nâng cao năng lực quản lý Nhà nước về khoáng sản cho cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và hệ thống thanh tra chuyên ngành khoáng sản; tạo điều kiện hỗ trợ, kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho tổ chức, cá nhân đầu tư trong lĩnh vực khoáng sản trên địa bàn tỉnh, nhất là trong giải phóng mặt bằng đối với các mỏ đã được cấp phép khai thác để giao cho nhà đầu tư...

N.Quý

[Trở về]