Bản in     Gởi bài viết  
Quảng Bình dưới chế độ phong kiến triều Nguyễn và thực dân Pháp 
Nằm trên dải đất hẹp nhất của Tổ quốc, trải qua nhiều biến cố lịch sử, thời kỳ nào mảnh đất Quảng Bình cũng nằm vào vị trí xung yếu của lịch sử dân tộc, phải chứng kiến và chịu đựng nhiều nỗi đau chia cắt, chiến tranh xâm lược, tranh giành quyền lực. Điều đó đã tôi luyện con người trở nên anh dũng, bất khuất, có truyền thống yêu nước thiết tha, tinh thần chống giặc ngoại xâm, chống các thế lực phản động.

 

Năm 1336, nhân dân Quảng Bình tham gia vào đạo quân Đại Việt đánh quân Chiêm Thành từ phía Nam ra cướp phá châu Lâm Bình. Năm 1425, nhân dân Quảng Bình nổi dậy phối hợp cùng đạo quân của tướng Lê Hãn đánh tan quân Minh trên bờ sông Gianh. Nhiều tráng kiệt của vùng đất Tân Bình được tuyển chọn vào nghĩa quân của Lê Lợi tiến ra Bắc đánh đuổi giặc Minh, có nhiều người trở thành tướng giỏi của Lê Lợi như Phạm Thượng Tướng, Nguyễn Danh Cả... trực tiếp góp phần vào cuộc chiến đấu giải phóng đất nước.
Do nằm ở vùng đất tranh chấp của hai thế lực phong kiến vua Lê chúa Trịnh ở Đàng Ngoài và chúa Nguyễn ở Đàng Trong, nhân dân Quảng Bình phải chịu biết bao khó khăn. Chính sách bóc lột, đàn áp của tập đoàn phong kiến Đàng Trong và Đàng Ngoài đã làm cho nhân dân hai vùng điêu đứng, cực khổ. Năm 1771, phong trào nông dân Đàng Trong chống áp bức phát triển lên đỉnh cao với cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn do 3 anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ, Nguyễn Lữ lãnh đạo. Cuộc khởi nghĩa nhanh chóng thu hút được nhiều tầng lớp nhân dân tham gia. Chỉ trong vòng 10 ngày của tháng 6 năm 1786, nhân dân Quảng Bình đã nổi dậy phối hợp với nghĩa quân Tây Sơn đánh tan 3 vạn quân Trịnh trên phòng tuyến sông Gianh. Sau đó tiếp tục tiến thẳng ra Bắc - Hà, lật đổ chế độ nhà Trịnh, thống nhất đất nước. Tháng 12 năm 1788, nông dân Quảng Bình gia nhập vào đội quân của Quang Trung - Nguyễn Huệ, tiến thẳng ra Thăng Long, quét sạch quân xâm lược Mãn Thanh.

Lên ngôi chưa được bao lâu thì Nguyễn Huệ qua đời, năm 1802, Nguyễn Ánh cấu kết với giặc ngoài lật đổ triều Tây Sơn lên làm vua, đặt niên hiệu là Gia Long, đóng đô ở Phú Xuân (Huế), lập ra nhà Nguyễn. Giành được quyền thống trị, Gia Long bắt đầu củng cố địa vị bằng những hành động hèn hạ, trả thù phong trào Tây Sơn, xoá bỏ những thành quả mà Quang Trung đã bỏ bao công sức xây dựng nên, đàn áp khốc liệt các cuộc nổi dậy của nông dân. Điều đó giải thích vì sao chỉ dưới 4 đời vua Triều Nguyễn (từ Gia Long đến Tự Đức - 1802 đến 1883), đã liên tiếp nổ ra hàng trăm cuộc khởi nghĩa của nông dân cả nước. Chính sách đối nội phản động, đối ngoại mù quáng của Triều Nguyễn đã tạo điều kiện mở đường cho thực dân Pháp xâm lược nước ta.

Sau nhiều năm chuẩn bị, năm 1858, thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ngày 27-6-1885, quân Pháp đổ bộ lên Thuận An, tiến vào kinh đô Phú Xuân, bắt triều Nguyễn đầu hàng vô điều kiện. Trong triều đình Huế lúc này phân thành hai phe: "Phe chủ chiến" và "Phe chủ hoà", "Phe chủ chiến" do Thượng thư Tôn Thất Thuyết đứng đầu đã vạch ra kế hoạch tấn công quân Pháp ở Huế. Sau vụ phản công ở Huế tháng 7-1885 không thành, Tôn Thất Thuyết phò vua Hàm Nghi chạy ra căn cứ Tân Sở (Quảng Trị), sau ra Tuyên Hoá (Quảng Bình) phát chiếu Cần Vương, kêu gọi nhân dân đứng lên phò vua cứu nước.

Đứng trước nguy cơ mất nước, hưởng ứng phong trào Cần Vương, nhân dân Quảng Bình đã vùng dậy dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu, quan lại và trí thức có tấm lòng yêu nước, đánh trả quân xâm lược. Vùng đất Quảng Bình trở thành một trong những nơi tụ nghĩa của phong trào Cần Vương. Các sĩ phu yêu nước của đất Quảng Bình như: Lê Trực, Nguyễn Phạm Tuân, Hoàng Phúc, Đoàn Chí Tuân... đã chiêu tập nghĩa quân, đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược. Hoảng sợ trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào kháng chiến chống Pháp ở Quảng Bình, thực dân Pháp và triều đình phong kiến Huế đã tập trung lực lượng đàn áp. Ngày 19-7-1885, quân Pháp nhanh chóng chiếm thành Đồng Hới. Thực dân Pháp còn tổ chức nhiều cuộc tấn công vào căn cứ của vua Hàm Nghi ở vùng Tuyên Hóa. Tại đây đã xảy ra những trận đánh lớn dưới sự chỉ huy của Nguyễn Phạm Tuân và các tướng khác. Tháng 1-1886, tại Khe Ve, nghĩa quân đã đánh bại hai lần tấn công quy mô của quân Pháp, giết và làm bị thương nhiều tên địch.

Tháng 4-1886, ở Mỹ Lộc (Lệ Thủy) nghĩa quân Cần Vương dưới sự chỉ huy của thống lĩnh Hoàng Phúc đã đánh tan cuộc truy lùng của 500 lính khố xanh và quân Pháp, bắt sống tên cầm đầu là Võ Bá Liên. Cũng vào thời điểm này ở đồn Lèn Bạc, Áng Sơn, Khe Giữa (Lệ Thủy), các thủ lĩnh Đề Én, Đề Chính, Lãnh Nhưỡng đã lãnh đạo nghĩa quân lần lượt đẩy lùi những cuộc tiến công của quân Pháp ở vùng núi này...

Những hoạt động mạnh mẽ của đội quân Cần Vương ở Quảng Bình dưới sự chỉ huy của Đoàn Chí Tuân (tức Bạch Xỉ) cũng giành được thắng lợi. Nghĩa quân đã làm cho quân Pháp ở vùng này hoang mang, mất ăn mất ngủ.

Đến năm 1889, vua Hàm Nghi bị Pháp bắt, phong trào Cần Vương ở Quảng Bình tạm thời lắng xuống nhưng tinh thần yêu nước, lòng căm thù giặc của nhân dân vẫn âm ỉ cháy, rồi lại bùng lên mạnh mẽ trong các cuộc khởi nghĩa của Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, trong các phong trào Đông Du, phong trào Duy Tân do Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh khởi xướng... Tuy nhiên, các phong trào đấu tranh lúc này do chưa có một đường lối chính trị đúng đắn, nên không thể đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đi đến thắng lợi. Phải đến khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (3-2-1930) đảm đương sứ mệnh của một Đảng lãnh đạo thì lúc đó các phong trào chống Pháp ở Quảng Bình mới có người lãnh đạo, phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn. Các tổ chức cơ sở Đảng lần lượt ra đời ở Trung Lực, Mỹ Thổ (Lệ Thuỷ), Kẻ Rấy (Bố Trạch), Lũ Phong (Bố Trạch). Dưới sự lãnh đạo của Đảng, các cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ, chống sưu cao, thuế nặng ở Quảng Bình liên tiếp nổ ra...

Từ năm 1936-1939, Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương sau là Mặt trận dân chủ Đông Dương ra đời. Các tổ chức quần chúng được hình thành từ tỉnh đến xã với nhiều hình thức như : công hội, nông hội, hội cứu tế... Các cuộc đấu tranh trong thời kỳ này đã làm cho phong trào cách mạng ở Quảng Bình có sự khởi sắc, đội ngũ cán bộ đảng viên trưởng thành. Quần chúng cách mạng được tập hợp, thử thách trong thực tiễn đấu tranh. Đó là những thắng lợi có ý nghĩa quan trọng không những làm cho quần chúng gắn bó mật thiết với nhau mà còn tạo tiền đề cơ sở cho cuộc vận động giải phóng dân tộc 1939-1945.

Trong thời kỳ 1939-1941, phong trào cách mạng ở Quảng Bình chỉ dừng lại ở việc đấu tranh để bảo vệ quyền lợi đã giành được trong thời kỳ mặt trận dân chủ và cố gắng duy trì các hình thức tổ chức cũ.

Tháng 2-1942, các đoàn thể cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh được thành lập, các đội tự vệ tuyên truyền xung phong lần lượt ra đời ở Lệ Thuỷ, Quảng Trạch.

Ngày 17-8-1945, Tỉnh bộ Việt Minh đã họp hội nghị để quán triệt lệnh tổng khởi nghĩa do đồng chí Tố Hữu phái viên của Trung ương vào truyền đạt. Hội nghị bàn kế hoạch lãnh đạo và quyết định lấy ngày 23-8-1945 làm ngày khởi nghĩa chung toàn tỉnh. Sau hội nghị, phong trào cách mạng ở Quảng Bình có bước phát triển nhảy vọt và trưởng thành nhanh chóng. Các cơ sở Việt Minh huyện, thị được củng cố. Hàng trăm cuộc mít tinh được tổ chức. Phong trào sắm sửa vũ khí và luyện tập quân sự phát triển khắp nơi cùng với phong trào đấu tranh sôi nổi của quần chúng, khí thế cách mạng đã lan rộng ra khắp các huyện, thôn, xóm báo hiệu một cuộc vùng lên mạnh mẽ của quần chúng nhân dân dưới ngọn cờ cách mạng của Mặt trận Việt Minh.

Đêm 22 rạng ngày 23-8-1945, các tầng lớp nhân dân ở vùng ven và quanh khu vực thị xã Đồng Hới với băng cờ, gươm, giáo mác, gậy gộc tập trung đông đảo quanh thành Đồng Hới đợi lệnh tổng khởi nghĩa. Mờ sáng ngày 23-8-1945, lệnh tổng khởi nghĩa được ban bố. Dân chúng từ các nơi đổ vào cửa thành, bao vây toà sứ, trại lính. Lực lượng tự vệ mau chóng chiếm được Bưu điện, Kho Bạc, Sở Công chính, nắm giữ các vị trí xung yếu trong nội thị, sẵn sàng đánh trả mọi hành động chống cự của địch. Tám giờ ngày 23-8, Uỷ ban khởi nghĩa làm lễ ra mắt và tuyên bố thành lập Uỷ ban nhân dân cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Việt Minh, quần chúng cách mạng ở các phủ huyện đã đồng loạt vùng lên giành chính quyền. Đến ngày 25-8, chính quyền cách mạng từ tỉnh xuống phủ, huyện, xã đều đã được thiết lập.

Ngày 23-8-1945 là mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh cách mạng của nhân dân Quảng Bình. Chỉ trong vòng chưa đầy một ngày đêm, quần chúng nhân dân khắp tỉnh nhất tề nổi dậy lật đổ ách thống trị của đế quốc, phong kiến giành chính quyền về tay nhân dân. Cuộc khởi nghĩa diễn ra nhanh gọn và thu dược thắng lợi to lớn.

Ngày 2-9-1945, lần đầu tiên trong lịch sử, quân và dân Quảng Bình đủ mọi tầng lớp, mọi lứa tuổi, từ miền xuôi đến miền ngược đã tập trung về tỉnh lỵ và huyện lỵ dự cuộc mít tinh lớn mừng ngày nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời. Ngày mà Chủ tịch Hồ Chí Minh trịnh trọng đọc Tuyên ngôn độc lập tuyên bố với quốc dân đồng bào và thế giới "Nước Việt Nam đã thành một nước tự do, độc lập"... "toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy".

[Trở về]