VĂN BẢN MỚI

Thông tin tra cứu
    Bản in     Gởi bài viết  
Tầm soát, chẩn đoán, điều trị một số bệnh tật trước sinh và sơ sinh nhằm nâng cao chất lượng dân số 
(Quang Binh Portal) - Tầm soát, chẩn đoán, điều trị trước sinh, sơ sinh để phát hiện, can thiệp và điều trị sớm các bệnh, tật, rối loạn chuyển hóa, di truyền ngay trong giai đoạn bào thai và sơ sinh giúp cho trẻ sinh ra phát triển bình thường hoặc tránh những hậu quả nặng nề về thể chất lẫn trí tuệ, giảm thiểu số người tàn tật, thiểu năng trí tuệ trong cộng đồng, góp phần nâng cao chất lượng dân số. Nhận thức rõ tầm quan trọng đó, trong những năm qua, Quảng Bình luôn chú trọng việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vấn đề tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống, sức khỏe trước hôn nhân, quá trình mang thai và ngay sau khi sinh nhằm giảm nguy cơ sinh con bị bệnh tật bẩm sinh.
Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở, trong 10 năm (2010 - 2020), trên địa bàn tỉnh đã tổ chức thực hiện Đề án sàng lọc trước sinh và sơ sinh. Đề án ban đầu được triển khai thí điểm tại 47 xã từ năm 2009 và đến nay mở rộng tại 100% xã, phường, thị trấn. Cùng với việc thực hiện đồng bộ các giải pháp về tuyên truyền vận động để chuyển đổi hành vi của đối tượng tham gia sàng lọc, tỉnh cũng phối hợp với Trung tâm Chẩn đoán, sàng lọc trước sinh và sơ sinh thuộc Trường Đại học Y Dược Huế đào tạo cho 06 Bác sỹ về kỹ thuật siêu âm sàng lọc trước sinh; 137 cán bộ y tế về kỹ thuật lấy mẫu máu gót chân trẻ sơ sinh; giảng viên tuyến tỉnh về kỹ thuật lấy mẫu máu sàng lọc trước sinh, sơ sinh; kỹ thuật lấy mẫu máu sàng lọc cho 291 cán bộ y tế tỉnh, huyện và xã, phường, thị trấn; tập huấn kỹ năng truyền thông, vận động và quản lý đối tượng cho 975 cán bộ dân số cơ sở; tổ chức hội nghị tư vấn, nói chuyện chuyên đề, truyền thông, vận động cho chị em phụ nữ mang thai và hộ gia đình với 3.072 buổi/22.551 người tham gia; in ấn, cấp phát tờ rơi, tài liệu và sản phẩm truyền thông có nội dung về sàng lọc trước sinh, sơ sinh; đồng thời thực hiện nhiều hoạt động tuyên truyền về mục đích, ý nghĩa của Đề án cho người dân trên hệ thống thông tin đại chúng. Từ năm 2010 - 2020, toàn tỉnh đã thực hiện 6.781 ca sàng lọc trước sinh, lấy và gửi 6.931 mẫu máu gót chân trẻ sơ sinh Trung tâm Chẩn đoán, sàng lọc trước sinh và sơ sinh xét nghiệm, kết quả có 133 trường hợp nghi ngờ thiếu men G6PD, 40 trường hợp nghi ngờ thiểu năng tuyến giáp bẩm sinh. Tỷ lệ bà mẹ mang thai được sàng lọc trước sinh hàng năm đều tăng, đạt 14,72% năm 2020. Tỷ lệ trẻ sơ sinh được sàng lọc sơ sinh hàng năm tăng, đạt 9,9% vào năm 2020.

Bên cạnh việc triển khai thực hiện Đề án sàng lọc trước sinh và sơ sinh, mô hình tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân cũng được địa phương chú trọng triển khai thực hiện. Thông qua đó nhằm nâng cao hiểu biết và thực hành chăm sóc sức khỏe sinh sản theo khoa học cho vị thành niên, thanh niên bằng các hoạt động tư vấn, kiểm tra sức khỏe cho thanh niên, vị thành niên cũng như các nhóm đối tượng khác tại cộng đồng để nâng cao chất lượng dân số. Toàn tỉnh cũng tổ chức được 643 hội thảo, hội nghị nói chuyện chuyên đề với sự tham gia của 15.488 đối tượng; tư vấn được 262 buổi có hơn 9.000 người tham dự; 202 lớp tập huấn cung cấp kiến thức, kỹ năng tư vấn tiền hôn nhân cho 1.640 cán bộ, viên chức và cộng tác viên dân số ở cơ sở; in ấn gần 50.000 tờ rơi tuyên truyền về sức khỏe sinh sản tuổi vị thành niên, thanh niên; khám sức khỏe tiền hôn nhân cho 3.710 em vị thành niên, thanh niên trên toàn tỉnh.

Nhìn chung, qua các năm triển khai thực hiện, mô hình đã mang lại nhiều hiệu quả thiết thực như: Ngày càng có nhiều vị thành niên, thanh niên, nhất là nam, nữ chuẩn bị kết hôn tham gia tư vấn, sinh hoạt câu lạc bộ đã mạnh dạn thổ lộ băn khoăn, vướng mắc của mình về vấn đề liên quan đến lứa tuổi, giới tính; cung cấp những kiến thức cần thiết về tâm lý lứa tuổi, tình huống về giới tính tuổi vị thành niên, thông tin về biện pháp tránh thai, dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản, tài liệu truyền thông. Thông qua mô hình cũng đã góp phần bảo vệ, nâng cao sức khỏe cho nam, nữ thanh niên, vị thành niên, giảm tỷ lệ phụ nữ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục kể cả HIV/AIDS lây truyền từ mẹ sang con; tăng số phụ nữ mang thai lần đầu có kiến thức, thực hành chăm sóc sức khỏe, nuôi con có khoa học; giảm tỷ lệ nạo, phá thai ở tuổi thanh niên, vị thành niên; giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em dưới 05 tuổi; hạn chế tỷ lệ tử vong trẻ em dưới 01 tuổi...

Tuy nhiên, việc triển khai thực hiện chương trình sàng lọc, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh gặp nhiều khó khăn, kết quả đạt được còn thấp do thiếu kinh phí, chưa có kinh nghiệm trong công tác sàng lọc trước sinh; một số đơn vị y tế ít quan tâm trong công tác phối hợp thực hiện sàng lọc trước sinh và sơ sinh, thiếu bác sỹ sản khoa, bác sỹ siêu âm được đào tạo về sàng lọc và chẩn đoán trước sinh. Cùng với đó, số lượng thanh niên được tiếp cận và sử dụng dịch vụ tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn hàng năm còn ít. Nguyên nhân là do nhận thức của người dân về dịch vụ này còn rất hạn chế; mạng lưới cung cấp dịch vụ chưa được bao phủ rộng khắp ảnh hưởng đến việc tiếp cận dịch vụ của người dân, đặc biệt ở những vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn; nội dung, hình thức truyền thông vẫn theo lối cũ, chưa được đổi mới phù hợp tình hình hiện nay…

Để đạt mục tiêu chung về phổ cập dịch vụ tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn, đồng thời tầm soát, chẩn đoán, điều trị một số bệnh tật trước sinh và sơ sinh, thời gian tới, các sở, ngành, địa phương sẽ tiến hành lồng ghép hoạt động tầm soát, chẩn đoán, điều trị một số bệnh, tật trước sinh, sơ sinh vào trong chương trình, dự án; sàng lọc trước sinh cho phụ nữ mang thai theo đúng thời điểm quy định; lấy máu gót chân trẻ sơ sinh sau 24 - 72 giờ theo đúng quy trình kỹ thuật đối với trẻ đẻ tại trạm và đẻ tại nơi khác nhưng chưa được lấy mẫu máu gót chân chuyển đến cở sở/trung tâm sàng lọc; tuyên truyền thực hiện nội dung của chương trình về tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn và hoạt động về sàng lọc, chẩn đoán, điều trị trước sinh, sơ sinh tại vùng đồng bào dân tộc ít người sinh sống; tăng cường giáo dục về dân số, sức khỏe sinh sản vị thành niên/thanh niên, tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn, tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống trong nhà trường...

Ngoài ra, các cơ quan thông tin truyền thông phối hợp với Sở Y tế và địa phương xây dựng, phát sóng, đăng tải chương trình phổ biến về mục đích, ý nghĩa, nội dung, kết quả triển khai thực hiện Chương trình, thông tin về sàng lọc, chẩn đoán trước sinh, sơ sinh, bệnh tật ở thai nhi, sơ sinh; đẩy mạnh tuyên truyền quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn, tác hại của tảo hôn, hôn nhân cận huyết thống, lợi ích của khám sức khỏe tiền hôn nhân; tăng thời lượng phát sóng, số lượng bài viết về hoạt động trong chương trình, chuyên trang, chuyên mục của đơn vị…

PV Minh Huyền

[Trở về]