VĂN BẢN MỚI

Thông tin tra cứu
    Bản in     Gởi bài viết  
Tình hình kinh tế - xã hội năm 2018 Tin có hình
(Quang Binh Portal) - Tỉnh ta triển khai thực hiện nhiệm vụ năm 2018 trong điều kiện còn nhiều khó khăn, thách thức do vẫn còn ảnh hưởng hậu quả của thiên tai, bão lũ của những năm trước. Nhưng xác định năm 2018 là năm có ý nghĩa rất quan trọng để thực hiện hoàn thành Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016 - 2020. Ngay từ đầu năm, với quyết tâm cao, UBND tỉnh tổ chức Hội nghị triển khai và ban hành Kế hoạch hành động thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, Tỉnh ủy, HĐND tỉnh về nhiệm vụ phát triển KT-XH và dự toán NSNN năm 2018 để chỉ đạo các cấp, các ngành, các địa phương tổ chức triển khai thực hiện.

Cùng với sự đoàn kết, thống nhất cao, sự chỉ đạo quyết liệt của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh và sự vào cuộc của cộng đồng doanh nghiệp, các tầng lớp nhân dân trong việc thực hiện đồng bộ các giải pháp đề ra, năm 2018 tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh đạt được những kết quả đáng ghi nhận: Tăng trưởng kinh tế đạt kế hoạch đề ra, thu ngân sách vượt kế hoạch đề ra; sản xuất nông nghiệp được mùa, chăn nuôi phát triển toàn diện, sản lượng thuỷ sản tăng cao; hoạt động du lịch có nhiều chuyển biến tích cực, lượt khách, doanh thu tăng cao; các hoạt động quảng bá, xúc tiến đầu tư được triển khai có hiệu quả; cơ sở hạ tầng được chú trọng đầu tư; lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ; công tác cải cách hành chính chuyển biến tích cực; quốc phòng - an ninh được tăng cường, giữ vững; công tác an sinh xã hội được chú trọng, đời sống của nhân dân được nâng lên.

Tuy nhiên, do tỉnh còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, cùng với việc chưa có các dự án động lực đi vào hoạt động nên có 03/21 chỉ tiêu kinh tế - xã hội của tỉnh chưa đạt kế hoạch đề ra; du lịch có sự phát triển mạnh nhưng số ngày lưu trú của khách du lịch vẫn còn thấp; văn hóa, xã hội có chuyển biến nhưng còn chậm; tỷ lệ hộ nghèo còn cao; tình hình vi phạm trật tự an toàn xã hội còn xảy ra ở một số địa phương.

I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHỦ YẾU 2018

1. Các chỉ tiêu kinh tế:

-       Tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 7,03% (KH 7,0%, TH cùng kỳ 6,62%);

-       Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,15% (KH 4,0%, TH cùng kỳ 6,17%);

-       Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 8,14% (KH 8,5%; TH cùng kỳ 8,17%);

-       Giá trị sản xuất dịch vụ tăng 6,72% (KH 7,5%; TH cùng kỳ 6,92%);

-       Cơ cấu kinh tế: nông, lâm nghiệp và thủy sản: 18,79%; công nghiệp - xây dựng: 26,75%; dịch vụ: 54,46% (KH Nông, lâm, ngư nghiệp: 20%; Công nghiệp - xây dựng: 27,2%; dịch vụ: 52,8%);

-       Thu ngân sách trên địa bàn đạt 4.000 tỷ đồng, vượt 14,3% so kế hoạch (KH 3.500 tỷ đồng);

-       Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 18.305 tỷ đồng, vượt 1,7% so kế hoạch (KH 18.000 tỷ đồng);

-       GRDP bình quân đầu người đạt 37,5 triệu đồng, vượt 4,2% so kế hoạch (KH 36 triệu đồng);

-       Có thêm 10 xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới, vượt 01 xã (đạt 45,6% số xã).

2. Các chỉ tiêu xã hội:

-       Giải quyết việc làm cho 3,68 vạn lao động, vượt 2,2% so kế hoạch (KH 3,5-3,6 vạn lao động);

-       Tỷ lệ hộ nghèo giảm 2,5% so với năm 2017 (KH giảm 2%);

-       Tốc độ tăng dân số 0,58%/năm (KH tăng 0,55%/năm);

-       99,72% hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia (KH 99,67%);

-       85,5% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế (KH 88,6%);

-       Số giường bệnh bình quân trên 1 vạn dân đạt 36,2 giường (KH 36 giường);

-       91,7% dân số tham gia bảo hiểm y tế (KH 90%);

-       71,07% xã, phường, thị trấn hoàn thành phổ cập THCS mức độ III (KH 69,2%);

-       Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 63,5% (KH 63,5%); trong đó lao động qua đào tạo nghề đạt 44,25% (KH 44%).

3. Các chỉ tiêu môi trường:

-       Tỷ lệ dân cư thành thị được sử dụng nước sạch đạt 97,2% (KH 97,2%);

-       Tỷ lệ hộ nông thôn được cung cấp nước sạch và hợp vệ sinh đạt 90,5% (KH 90%);

-       Tỷ lệ che phủ rừng đạt 67,3% (KH 67%).

    Có 18/21 chỉ tiêu chủ yếu đạt và vượt kế hoạch, 03 chỉ tiêu không đạt kế hoạch[1]. Trong bối cảnh đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, kết quả trên thể hiện nỗ lực rất lớn của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân toàn tỉnh.

 

II.  KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRÊN CÁC LĨNH VỰC

1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP):

Dự ước tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh năm 2018 (theo giá so sánh năm 2010) tăng 7,03% so năm 2017, vượt kế hoạch đề ra. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,03%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 10,29%; khu vực dịch vụ tăng 6,68%.

Tuy tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp và dịch vụ không đạt kế hoạch, nhưng nhờ giá trị sản xuất ngành xây dựng tăng cao (13,13%), kéo theo giá trị tăng trưởng của khu vực công nghiệp, xây dựng tăng trưởng 10,29% nên tốc độ tăng trường kinh tế (GRDP) vẫn vượt kế hoạch đề ra.

2. Công tác quy hoạch và quản lý đô thị:

Công tác quy hoạch, quản lý đô thị có nhiều tiến bộ, chất lượng quy hoạch được nâng lên. Tiếp tục chỉ đạo các sở, ban, ngành, địa phương tích cực phối hợp với đơn vị tư vấn (Công ty TNHH McKinsey & Company Việt Nam) để triển khai giai đoạn 2 dự án điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Bình đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Nhiều nhiệm vụ, đồ án quy hoạch quan trọng đã được phê duyệt phục vụ phát triển kinh tế xã hội của tỉnh[2]. Đẩy mạnh đầu tư nhà ở thương mại, khu đô thị mới (theo hình thức xã hội hóa) nhằm hoàn chỉnh hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị[3].

Tuy vậy, tiến độ triển khai của đơn vị tư vấn (Công ty TNHH McKinsey & Company Việt Nam) còn chậm; việc xây dựng quy hoạch một số quy hoạch chưa đảm tiến độ, chất lượng quy hoạch chưa đạt yêu cầu; công tác công khai, quản lý và thực hiện quy hoạch của một số địa phương chưa kịp thời. Tiến độ thực hiện một số dự án nhà ở thương mại còn chậm.

3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Dự ước giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản năm 2018 (giá so sánh năm 2010) đạt 8.439 tỷ đồng, tăng 4,15% so cùng kỳ và đạt 105% kế hoạch[4]. Kết quả từng lĩnh vực như sau:

3.1. Trồng trọt:

Thời tiết đầu các vụ không thuận lợi, nhưng sự chỉ đạo kịp thời của các cấp các ngành, sự nỗ lực của bà con nông dân triển khai đồng bộ các giải pháp về giống, thời vụ, tưới tiêu, biện pháp canh tác, phòng trừ sâu bệnh nên sản xuất cây hàng năm cơ bản được mùa, sản lượng lương thực tăng so với năm trước và vượt chỉ tiêu kế hoạch đề ra. Diện tích gieo trồng cây hàng năm thực hiện 85.755 ha, giảm 2,0% so với năm trước[5]; năng suất nhiều loại cây trồng đạt cao và tăng so cùng kỳ[6]. Sản lượng lương thực ước đạt 31 vạn tấn, bằng so cùng kỳ và đạt 108,9% kế hoạch[7]. Đã thực hiện chuyển đổi đất lúa kém hiệu quả sang cây trồng khác có hiệu quả 2.291 ha, tăng 8,9% so cùng kỳ; hình thành một số vùng chuyển đổi tập trung có thu nhập cao hơn so với trồng lúa. Tiếp tục tổ chức cho các doanh nghiệp thực hiện liên kết với HTX, tổ hợp tác và người nông dân sản xuất theo cánh đồng lớn[8]. Các quy trình sản xuất tiên tiến, thân thiện với môi trường được nhân rộng[9].

Cây lâu năm đang được các doanh nghiệp và các hộ gia đình tiếp tục chăm sóc, đầu tư cải tạo có hiệu quả kinh tế cao[10]. Sản lượng hồ tiêu ước đạt 845 tấn, tăng 8,7%; Sản lượng mủ cao su khai thác ước đạt 5.400 tấn, bằng 95,5% so năm trước. Xây dựng đề án chuyển đổi cao su kém hiệu quả; rà soát quy hoạch vùng trồng cao su theo hướng phát triển các loại cây trồng thích hợp với biến đổi khí hậu vùng gò đồi[11].

3.2. Chăn nuôi:

Tập trung chỉ đạo phát triển chăn nuôi, tổng đàn gia súc, gia cầm tăng và chuyển dịch hợp lý theo hướng chăn nuôi trang trại, gia trại[12], từng bước khẳng định vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp hàng hóa. Một số dự án chăn nuôi chất lượng cao, quy mô lớn đã đi vào hoạt động[13]; liên kết chăn nuôi theo chuỗi bước đầu thành công. Hệ số xuất chuồng cao, sản lượng thịt hơi xuất chuồng năm 2018 ước đạt 79.312 tấn, tăng 5,1% so năm trước[14], tỷ trọng chăn nuôi chiếm 50,4%. Công tác thú y được thực hiện tốt, không có dịch bệnh lớn xảy ra trên đàn gia súc, gia cầm.

3.3. Lâm nghiệp:

Sản xuất lâm nghiệp tiếp tục phát triển. Công tác trồng rừng sản xuất, rừng phòng hộ, chăm sóc rừng trồng được triển khai đúng kế hoạch. Công tác giao khoán bảo vệ, phục hồi vốn rừng, làm giàu rừng được chú trọng. Khai thác gỗ từ rừng trồng được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo tiến độ. Dự ước năm 2018 sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng 480.000 m3, tăng 9,1% so năm trước và đạt 192% kế hoạch[15]. Đã kêu gọi 04 dự án đầu tư chế biến các sản phẩm từ gỗ rừng trồng nhằm nâng cao giá trị gia tăng trong sản xuất lâm nghiệp[16].

Công tác rà soát, điều chỉnh quy hoạch rừng kịp thời, đảm bảo có quỹ đất cho phát triển kinh tế - xã hội. Các địa phương đã chủ động triển khai công tác phòng chống cháy rừng theo phương châm “4 tại chỗ”, sẵn sàng ứng cứu kịp thời khi có cháy rừng xảy ra. Đẩy mạnh kiểm tra, ngăn chặn, xử lý nghiêm các trường hợp khai thác, buôn bán, vận chuyển gỗ, động vật hoang dã trái phép.

3.4. Thủy sản:

Ngành thủy sản năm 2018 có tốc độ tăng trưởng khá. Nhờ triển khai tốt các chính sách hỗ trợ của nhà nước[17] và nhận tiền đền bù sự cố môi trường biển, nhiều ngư dân đã mạnh dạn đóng mới tàu có công suất lớn để chuyển đổi sang khai thác xa bờ, làm tăng năng lực đánh bắt và hiệu quả khai thác[18], sản lượng khai thác tăng cao; diện tích nuôi trồng được mở rộng, tiến bộ khoa học kỹ thuật được ứng dụng rộng rãi trong nuôi trồng, các giống có năng suất, chất lượng cao được sử dụng phổ biến. Dự ước sản lượng thủy sản năm 2018 đạt 76.505 tấn, tăng 7,5% so cùng kỳ và đạt 107,8% kế hoạch[19].

3.5. Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới:

Tập trung chỉ đạo quyết liệt, đồng bộ các giải pháp theo kế hoạch đề ra. Rà soát thực trạng các tiêu chí theo Bộ tiêu chí giai đoạn 2016-2020 để xây dựng kế hoạch nâng cao chất lượng các tiêu chí[20]. Xây dựng tiêu chí Khu dân cư kiểu mẫu, Vườn mẫu trên địa bàn tỉnh; Chỉ đạo xử lý dứt điểm nợ đọng xây dựng cơ bản Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới trong năm 2018; Nhiều mô hình sản xuất ứng dụng để nâng cao thu nhập được thực hiện; nhiều địa phương đã chủ động học tập kinh nghiệm của các tỉnh và tiên phong triển khai nhiều mô hình hay[21]. Năm 2018, có thêm 10 xã hoàn thành 19/19 tiêu chí, nâng số xã đạt nông thôn mới trên toàn tỉnh lên 62 xã, chiếm 45,6% số xã.

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp chưa tạo được chuyển biến rõ nét; liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, cánh đồng lớn, công nghệ cao, nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ còn hạn chế. Nuôi trồng thủy sản phát triển chưa bền vững, hiệu quả chưa cao. Năng suất, chất lượng khai thác gỗ từ rừng còn thấp. Xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu sản phẩm nông nghiệp, hỗ trợ thị trường hạn chế; chất lượng nông, lâm, thủy sản chưa đáp ứng thị trường, đặc biệt thị trường xuất khẩu.

4. Công nghiệp:

Tích cực triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn, duy trì sản xuất kinh doanh cho các cơ sở công nghiệp; tập trung chỉ đạo để đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án công nghiệp, đặc biệt là dự án Trung tâm Nhiệt điện Quảng Trạch, dự án điện mặt trời của Tập đoàn Dohwa. Các doanh nghiệp sản xuất gạch không nung, gạch lát ceramic, nhôm thanh, điện sản xuất, dăm gỗ, áo sơ mi … duy trì tốt hoạt động và có mức tăng trưởng khá.  Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010) năm 2018 tăng 8,14% so năm trước (kế hoạch tăng 8,5%)[22]. Chỉ số sản xuất công nghiệp năm 2018 ước tăng 7,2% so cùng kỳ với năm 2017. Tiểu thủ công nghiệp từng bước phát triển, giải quyết nhiều việc làm, tạo thu nhập cho người lao động. Nhiều cơ sở đã đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới công nghệ, thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm[23]. Nhiều sản phẩm sản xuất chủ yếu ngành công nghiệp năm 2018 vượt cao so với kế hoạch đề ra[24].

Tuy vậy, sản xuất công nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, không đạt kế hoạch đề ra, nguyên nhân do chưa có dự án công nghiệp mới có giá trị cao đi vào hoạt động, một số dự án hoàn thành đưa vào hoạt động nhưng phát huy hiệu quả chưa cao[25]. Sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của một số doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn (bia, chế biến cao su, gạch không nung...).

5. Các ngành dịch vụ:

5.1. Hoạt động thương mại nội địa:

Tình hình cung cầu hàng hóa trên địa bàn tỉnh được đảm bảo. Mạng lưới dịch vụ thương mại tiếp tục phát triển, các mặt hàng thiết yếu được cung ứng đầy đủ, kịp thời cho sản xuất, đời sống. Tổng mức bán lẻ hàng hóa năm 2018 ước đạt 19.884 tỷ đồng, tăng 11,3% so cùng kỳ. Công tác quản lý thị trường, giá cả, chống buôn lậu, hàng giả, gian lận thương mại tiếp tục tăng cường; thực hiện tốt công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, xử lý vi phạm, thực hiện niêm yết giá và bán theo giá niêm yết trên địa bàn[26]. Thực hiện tốt cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”.

5.2. Hoạt động du lịch:

Trong năm 2018, hoạt động du lịch của tỉnh có nhiều khởi sắc. Công tác tuyên truyền, giới thiệu, quảng bá và xúc tiến du lịch được thực hiện với nhiều phương thức đa dạng, nội dung phong phú trên phạm vi rộng từ tỉnh đến quốc gia, khu vực và quốc tế[27]. Tập trung nâng cao chất lượng, đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ du lịch, đưa vào khai thác thử nghiệm nhiều tour du lịch hang động mới nhằm đa dạng hóa thêm sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu thưởng ngoạn, khám phá và trải nghiệm của du khách[28]. Các thế mạnh du lịch văn hóa, tâm linh, du lịch cộng đồng của tỉnh được khai thác tốt, mang lại hiệu quả…[29]. Chú trọng phát triển nguồn nhân lực cho ngành du lịch[30]; Khuyến khích đầu tư xây dựng hạ tầng, các dự án phát triển ngành du lịch[31]; Chất lượng phục vụ từng bước được nâng lên đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Từng bước xây dựng được thương hiệu du lịch Quảng Bình. Năm 2018, tổng số lượt khách du lịch đến Quảng Bình ước đạt 3,9 triệu lượt, tăng 18,2% so cùng kỳ[32].

5.3. Hoạt động dịch vụ khác:

Hoạt động vận tải đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại của nhân dân, đặc biệt là vận tải biển, cảng biển và hàng không. Các loại hình dịch vụ khác như bưu chính, viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, khám chữa bệnh, tư vấn pháp luật tiếp tục phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nhân dân.

Tuy vậy, còn tồn tại trong việc thực hiện kiểm tra, kiểm soát an toàn thực phẩm, hàng giả, hàng nhái; sản phẩm du lịch còn ít so với tiềm năng; hoạt động kinh doanh lữ hành còn yếu; còn thiếu các khu vui chơi giải trí, khu nghỉ dưỡng cao cấp và các dịch vụ hỗ trợ phục vụ khách; tỷ lệ khách lưu trú tại tỉnh còn thấp; đội ngũ nhân lực du lịch còn thiếu lực lượng có chuyên môn, tay nghề cao.

6. Tài chính – Ngân hàng:

6.1. Tài chính:

UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo các ngành, các địa phương triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp để tăng thu, đôn đốc thu nộp ngân sách kịp thời, đúng tiến độ nên thu ngân sách năm 2018 vượt kế hoạch đề ra, ước đạt 4.000 tỷ đồng[33], bằng 114,3% dự toán địa phương, tăng 5,3% so cùng kỳ. Việc quản lý, điều hành chi ngân sách đảm bảo chặt chẽ, tiết kiệm, đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ phát triển KT-XH, tăng cường quốc phòng an ninh và những nhiệm vụ quan trọng, đột xuất khác. Tổng chi ngân sách địa phương năm 2018 ước thực hiện 10.882.510 triệu đồng, đạt 104,18% dự toán địa phương giao[34].

6.2. Ngân hàng:

Các tổ chức tín dụng tiếp tục đẩy mạnh huy động vốn và cho vay phát triển kinh tế địa phương. Tổng số vốn huy động của các tổ chức tín dụng đến cuối năm 2018 ước đạt 36.510 tỷ đồng, tăng 12,6% so đầu năm. Tổng dư nợ cho vay cuối năm 2018 ước đạt 46.950 tỷ đồng, tăng 17,9% so đầu năm. Hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng đã thực hiện tốt các chương trình tín dụng hỗ trợ doanh nghiệp, tập trung vốn vay cho các ngành, lĩnh vực ưu tiên.

Tuy vậy, thu ngân sách chưa bền vững, do tình sản xuất kinh doanh còn khó khăn nên một số khoản thu không đạt dự toán và thấp so cùng kỳ[35]; nợ đọng thuế vẫn còn cao, một số đơn vị gặp khó khăn trong quá trình sản xuất kinh doanh dẫn đến nợ thuế, một số đơn vị còn cố tình chây ỳ, chiếm dụng tiền thuế.

7. Quản lý đầu tư xây dựng:

7.1.  Tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2018 ước thực hiện 18.305 tỷ đồng, đạt 101,7% kế hoạch, tăng 10,7% so cùng kỳ, trong đó, vốn khu vực Nhà nước thực hiện 4.021 tỷ đồng, tăng 9,7% so cùng kỳ; vốn khu vực ngoài nhà nước thực hiện 14.279 tỷ đồng, tăng 11,0% so cùng kỳ; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 4,6 tỷ đồng, tăng 228,3% so cùng kỳ[36].

7.2. Đầu tư từ ngân sách: Công tác quản lý và sử dụng vốn đầu tư công được quản lý chặt chẽ, hiệu quả hơn. Tập trung chỉ đạo đẩy nhanh triển khai các công trình trọng điểm, cấp bách của tỉnh để sớm đi vào khai thác sử dụng[37]. Đã triển khai thực hiện tốt các quy trình thẩm định chủ trương đầu tư, thẩm định dự án, kế hoạch đấu thầu theo quy định; chỉ đạo xây dựng lộ trình thực hiện đấu thầu qua mạng đến năm 2020 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ[38]. Thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công năm 2018. Tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư phát triển đến 30/11 đạt 64%.

Các dự án ODA, NGO: Tiếp tục giải quyết vướng mắc[39], đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân các dự án ODA theo kế hoạch; đăng ký bổ sung kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn các dự án đã được ký Hiệp định[40]. Công tác vận động thu hút và tiếp nhận nguồn viện trợ NGO được triển khai tích cực[41].

Hợp tác công - tư (PPP) đã được chú trọng, các dự án BT được tập trung chỉ đạo và triển khai thực hiện theo đúng tiến độ, năm 2018 có 02 dự án đã phê duyệt kết quả đấu thầu, đàm phán ký kết hợp hợp đồng và đang triển khai thực hiện[42]; 03 dự án đang lập đề xuất dự dự án[43]; 04 dự án nhà đầu tư đang quan tâm nghiên cứu đề xuất dự án.

7.3.    Đầu tư từ ngoài ngân sách:

Các dự án của nhà đầu tư: Trong 10 tháng đầu năm, đã phê duyệt chủ trương đầu tư 75 dự án với tổng mức đầu tư hơn 10.038 tỷ đồng, nâng tổng số dự án được phê duyệt chủ trương đầu tư đến nay là 354 dự án[44] với tổng vốn đăng ký 48.000 tỷ đồng. Các chủ đầu tư đã tích cực thực hiện các thủ tục để triển khai dự án theo tiến độ đề ra. Đã chỉ đạo rà soát, đôn đốc tiến độ thực hiện các dự án đầu tư[45], qua đó tháo gỡ những khó khăn vướng mắc cho các nhà đầu tư. Ban hành quy định suất đầu tư đối với các dự án nhà đầu tư tại khu vực Phong Nha và các trục đường chính trên địa bàn thành phố Đồng Hới; danh mục dự án đầu tư có sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Quảng Bình năm 2018.

Các dự án FDI: tiếp tục triển khai thực hiện theo tiến độ. Trong năm, đã thực hiện cấp mới 4 dự án với tổng số vốn đăng ký 17,22 triệu USD[46] và cấp điều chỉnh 5 dự án[47], thu hồi 2 dự án với số tiền đăng ký 10 triệu USD.

Tuy vậy, tỷ lệ giải ngân một số chương trình, dự án còn đạt thấp[48]; công tác thanh quyết toán vốn của các chủ đầu tư chậm so tiến độ. Một số dự án ODA gặp khó khăn về vốn đối ứng, chưa được bổ sung kế hoạch trung hạn giai đoạn 2016-2020 nên chưa có cơ sở để triển khai. Một số dự án của nhà đầu tư được cấp chủ trương đầu tư triển khai còn chậm so với cam kết, chủ yếu là do gặp khó khăn, vướng mắc trong thực hiện các thủ tục đầu tư[49].

8. Hoạt động đối ngoại và xúc tiến đầu tư:

8.1. Công tác ngoại vụ:

Chú trọng, đẩy mạnh tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước, các tổ chức quốc tế. Việc quản lý đoàn vào, đoàn ra đã được thực hiện chặt chẽ, đúng quy định[50]. Năm 2018, có 152 đoàn ra với 770 lượt người xuất cảnh đi nước ngoài với mục đích tham dự hội nghị, hội thảo, xúc tiến du lịch, học tập, tham dự đua thuyền, trao tiền ủng hộ lũ lụt, đi việc riêng... Có 89 đoàn vào với 745 lượt người đến làm việc tại tỉnh với mục đích hoạt động dự án, tham dự hội nghị, xúc tiến đầu tư, thăm trẻ bảo trợ, hoạt động báo chí và làm việc với các cơ quan, tổ chức trên địa bàn tỉnh.

8.2. Công tác xúc tiến và hỗ trợ đầu tư:

Tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực hiện Nghị quyết của Chính phủ về thực hiện nhiệm vụ, giải pháp cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh, hỗ trợ và phát triển doanh nghiệp. Tập trung chỉ đạo tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực hiện Nghị định 167/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ quy định việc sắp xếp lại, xử lý tài sản công. Xây dựng Bộ chỉ số đánh giá năng lực cạnh tranh Sở, ban, ngành và cấp huyện (DDCI) tỉnh Quảng Bình. Đã trực tiếp làm việc với nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước đến tìm hiểu hợp tác đầu tư tại tỉnh[51]. Hướng dẫn các thủ tục cho nhà đầu tư để hưởng các chính sách hỗ trợ, ưu đãi đầu tư của tỉnh[52].

Tổ chức thành công Hội nghị xúc tiến đầu tư tỉnh Quảng Bình năm 2018 với chủ đề “Hợp tác và phát triển bền vững”. Hội nghị đã chứng kiến trao Giấy Chứng nhận đăng ký đầu tư và ký thỏa thuận hợp tác đầu tư 66 dự án với tổng số vốn đầu tư 168.869 tỷ đồng, tương đương 7,34 tỷ USD[53]; cam kết cấp tín dụng giữa các Ngân hàng và doanh nghiệp với số tiền 33.497 tỷ đồng... Ngay sau hội nghị, UBND tỉnh đã chỉ đạo phân công các Sở, ngành, địa phương hỗ trợ các nhà đầu tư triển khai thủ tục đầu tư theo quy định.

 Bên cạnh những kết quả đạt được, một số Nhà đầu tư chưa tích cực đẩy nhanh tiến độ triển khai thực hiện dự án; còn vướng mắc trong xử lý tài sản công theo Nghị định 167/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ; Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) đang ở thứ hạng thấp...

9. Phát triển doanh nghiệp và các thành phần kinh tế:

9.1. Sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp:

Sau thời gian chuyển đổi, sắp xếp hoạt động theo Luật Doanh nghiệp và các quy định của Chính phủ, hiện nay, trên địa bàn tỉnh có 09 doanh nghiệp do UBND tỉnh Quảng Bình quản lý[54]. Có 03 Doanh nghiệp[55] đã phê duyệt giá khởi điểm (giá sàn) đối với phần vốn nhà nước thoái vốn theo Kế hoạch sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2017-2020[56]. Các doanh nghiệp có vốn nhà nước đã xây dựng phương án cơ cấu lại doanh nghiệp giai đoạn 2016-2020, tầm nhìn 2030 theo Quyết định 707/QĐ-TTg ngày 25/05/2017 của Thủ tướng Chính phủ trình UBND tỉnh phê duyệt[57].

UBND tỉnh đã đề nghị Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục đơn vị sự nghiệp công lập tỉnh Quảng Bình chuyển thành công ty cổ phần theo Quyết định số 22/2015/QĐ-TTg ngày 22/6/2015 và Quyết định số 31/2017/QĐ-TTg ngày 17/7/2017 của Thủ tướng Chính phủ được triển khai thực hiện.

9.2. Công tác đăng ký kinh doanh: Trong năm 2018, đã cấp đăng ký thành lập mới giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho 686 doanh nghiệp (tăng 16,2% so cùng kỳ) với số vốn đăng ký 10.409 tỷ đồng (tăng 138% so cùng kỳ); nâng tổng số doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh lên 5.732 doanh nghiệp, với tổng số vốn đăng ký là 63.888 tỷ đồng[58].

9.3.  Kinh tế tập thể tiếp tục được quan tâm chỉ đạo, các tổ chức kinh tế tập thể hoạt động ổn định có hiệu quả. Các thành viên trong hợp tác xã đã tương trợ giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất, nâng cao thu nhập cho các hộ thành viên, tạo công ăn việc làm cho người lao động, đã góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh[59].

Tuy nhiên, quy mô doanh nghiệp của tỉnh còn nhỏ, năng lực tài chính và sức cạnh tranh thấp, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh chưa cao, doanh nghiệp dừng hoạt động thực tế còn nhiều; chính sách hỗ trợ doanh nghiệp chưa rõ. Kinh tế HTX phát triển chưa mạnh, chưa phát huy hết được vai trò, vị trí, hiệu quả.

10. Tài nguyên và môi trường:

Công tác quản lý đất đai tiếp tục được tăng cường; các thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai tiếp tục được cải cách đáng kể. Thực hiện việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định[60]. Công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch sử dụng đất được thực hiện chặt chẽ; đã tích cực thực hiện điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối của tỉnh. Tích cực đẩy mạnh công tác phát triển quỹ đất. Tập trung thực hiện công tác cắm mốc ranh giới đất nông, lâm nghiệp[61].

Công tác quản lý tài nguyên trên địa bàn tiếp tục được chú trọng; đã chấn chỉnh kịp thời các hoạt động khai thác khoáng sản vi phạm, sai quy định. Công tác quản lý nhà nước về môi trường được tăng cường; việc thẩm định, đánh giá môi trường, kiểm soát ô nhiễm tiếp tục được thực hiện nghiêm túc, các trường hợp vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đã được kịp thời chấn chỉnh, xử lý. Công tác quản lý khí tượng thủy văn, biến đổi khí hậu, quản lý tổng hợp về biển và hải đảo được quan tâm, đẩy mạnh.

Tuy vậy, ô nhiễm môi trường vẫn còn xảy ra tại một số cơ sở sản xuất kinh doanh; công tác giải phóng mặt bằng một số công trình, dự án vẫn còn gặp khó khăn; lấn chiếm đất đai, sử dụng đất sai mục đích vẫn còn xảy ra; cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã có nhiều chuyển biến nhưng vẫn còn chậm; việc khai thác khoáng sản trái phép vẫn còn xẩy ra ở một số địa phương, nhất là cát, sỏi, đất san lấp.

11. Giáo dục đào tạo:

Tiếp tục quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các trường, lớp học; hệ thống mạng lưới trường, lớp các cấp học cơ bản đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân[62]. Chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục[63]; Đổi mới chương trình giáo dục giáo dục mầm non, phổ thông; Tăng cường giáo dục hướng nghiệp và dạy nghề phổ thông cho học sinh THCS và THPT. Nâng cao chất lượng dạy học ngoại ngữ ở các cấp học. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy, học và quản lý giáo dục. Tiếp tục củng cố, giữ vững và phát triển vững chắc kết quả phổ cập giáo dục, xóa mù chữ[64]. Công tác xây dựng trường đạt chuẩn Quốc gia được quan tâm chỉ đạo, đã có 351 trường được công nhận đạt chuẩn Quốc gia, đạt tỷ lệ 59,5%, tăng 4,8% so với năm học trước[65].

Tích cực chỉ đạo, tổ chức thành công kỳ thi THPT Quốc gia 2018 và công tác tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2018-2019. Đào tạo đại học, cao đẳng và TCCN tiếp tục đa dạng hóa các ngành nghề, các loại hình đào tạo phù hợp nhu cầu thực tế, công tác quản lý chất lượng được chú trọng và chặt chẽ hơn.

Tuy nhiên, cơ sở vật chất ngành giáo dục, đào tạo còn nhiều khó khăn, vẫn còn phòng học tạm, phòng học mượn, phòng học nhờ ở cấp học Mầm non và Tiểu học ở một số địa phương; Tình trạng thiếu giáo viên ở cấp học mầm non còn cao. Chất lượng giáo dục cấp THPT còn thấp. Công tác tuyển sinh tại các trường trung học chuyên nghiệp, Trung tâm Giáo dục - Dạy nghề cấp huyện gặp khó khăn,...

12. Khoa học và công nghệ:

Hoạt động khoa học và công nghệ được triển khai theo đúng kế hoạch và có những bước chuyển biến tích cực. Các đề tài, dự án, mô hình ứng dụng và nhiệm vụ sự nghiệp KH&CN đã tập trung vào các chương trình phát triển kinh tế - xã hội, ứng dụng tiến bộ KH&CN phục vụ sản xuất; nhiều đề tài mang tính ứng dụng vào điều kiện thực tiễn của tỉnh ngày càng cao. Công tác thanh tra, kiểm tra về sở hữu trí tuệ, an toàn bức xạ hạt nhân và đo lường, chất lượng sản phẩm hàng hóa được tăng cường. Công tác quản lý công nghệ, sở hữu trí tuệ, an toàn bức xạ hạt nhân được triển khai toàn diện. Công tác tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng đã đi vào chiều sâu và góp phần vào việc nâng cao chất lượng sản phẩm của địa phương và bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng.

Tuy vậy, năng lực khoa học công nghệ còn hạn chế, chưa đáp ứng kịp thời thực tiễn đổi mới. Chưa tạo được mối liên kết chặt chẽ giữa: giáo dục, đào tạo - nghiên cứu KHCN - sản xuất, kinh doanh nên sản phẩm hoạt động nghiên cứu KHCN chưa thực sự đi sâu vào thực tiễn đời sống sản xuất. Đầu tư của xã hội cho hoạt động KH&CN còn thấp.

13. Y tế và chăm sóc sức khoẻ Nhân dân:

Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân được đẩy mạnh. Tiếp tục duy trì và phát huy tốt hoạt động khám chữa bệnh tại các tuyến. Công tác tiếp đón, chăm sóc người bệnh có nhiều chuyển biến tích cực, hướng tới sự hài lòng của người bệnh, kịp thời đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân. Tiếp tục triển khai, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong khám chữa bệnh và thanh toán bảo hiểm y tế[66]. Thực hiện tốt các quy chế chuyên môn về dược trong công tác quản lý, cấp phát, sử dụng thuốc trong bệnh viện. Toàn tỉnh hiện có 159/159 xã, phường, thị trấn có trạm y tế và có bác sỹ làm việc[67]. Đến hết năm 2018, toàn tỉnh đã có 136/159 trạm y tế xã, phường, thị trấn đạt tiêu chí quốc gia về y tế (đạt tỷ lệ 85,5%).

Công tác phòng, chống dịch bệnh được tăng cường, trong năm không có dịch bệnh lớn xảy ra[68]. Tiếp tục duy trì tiêm chủng mở rộng cho trẻ em dưới 1 tuổi. Tiếp tục triển khai tốt các dịch vụ liên quan về KHHGĐ và chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em. Các Chương trình: Chăm sóc sức khoẻ tâm thần tại cộng đồng, phòng chống lao, phòng chống mù loà... tiếp tục được triển khai có hiệu quả. Hướng dẫn và triển khai tốt công tác vệ sinh an toàn thực phẩm; duy trì công tác tập huấn, phổ biến kiến thức đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ ăn uống. Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra vệ sinh an toàn thực phẩm[69].

Tuy vậy, chất lượng khám chữa bệnh ở một số cơ sở y tế vẫn chưa được nâng cao; đầu tư, nâng cấp trang thiết bị chưa đáp ứng yêu cầu; tình trạng quá tải theo mùa vẫn còn diễn ra ở các bệnh viện trong tỉnh. Đội ngũ cán bộ y tế còn thiếu bác sĩ, dược sĩ, cán bộ có trình độ đại học và trên đại học, cán bộ có trình độ chuyên môn sâu thuộc các chuyên ngành.

14. Văn hoá, Thể thao:

Công tác quản lý nhà nước về văn hóa, thể thao và gia đình tiếp tục được tăng cường. Các hoạt động văn hóa, thể thao diễn ra sôi nổi phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị của địa phương và thiết thực chào mừng các ngày lễ lớn của quê hương, đất nước. Nổi bật là các hoạt động kỷ niệm 70 năm ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948 – 11/6/2018); 107 năm Ngày sinh (25/8/1911 – 25/8/2018) và tưởng niệm 5 năm ngày mất (4/10/2013 - 4/10/2018) của Đại tướng Võ Nguyên Giáp;...[70]

Công tác bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa đạt được nhiều kết quả quan trọng. Lễ hội Cầu ngư của ngư dân miền biển tỉnh Quảng Bình được đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia; tổ chức, tham gia nhiều hoạt động nhằm bảo tồn giá trị văn hóa phi vật thể đã được ghi danh[71]. Công tác trùng tu, tôn tạo, phát huy giá trị di tích, công trưng bày, triển lãm được chú trọng[72]. Công tác quản lý, tổ chức lễ hội có nhiều chuyển biến tích cực cả về nội dung, hình thức và quy mô, cách thức tổ chức đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu của người dân và du khách[73]. Đời sống văn hóa cơ sở được tổ chức với nhiều nội dung và hình thức phong phú tạo được không khí tươi mới, góp phần cổ vũ tinh thần nhân dân trong lao động, sản xuất[74]. Phong trào ''Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” có nhiều chuyển biến tích cực. Hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp đáp ứng ngày càng tốt hơn nhiệm vụ chính trị của địa phương[75].

Tổ chức thành công chương trình Đại hội Thể dục Thể thao tỉnh Quảng Bình lần thứ VIII, năm 2017-2018. Đăng cai tổ chức thành công các giải thi đấu quốc gia[76]; Phong trào thể dục thể thao diễn ra sôi nổi, khơi dậy tinh thần rèn luyện thể chất, góp phần nâng cao thể lực cho nhân dân[77]. Thể thao thành tích cao tham gia thi đấu đạt nhiều huy chương danh giá, mang về vinh quang cho tỉnh nhà[78].

Tuy vậy, công tác quản lý, tu bổ, bảo tồn, phát huy giá trị di tích trên địa bàn còn gặp khó khăn; hệ thống thiết chế văn hóa, thể thao từ tỉnh xuống cơ sở còn thiếu và xuống cấp; công tác đào tạo vận động viên của một số môn còn thiếu tính kế cận giữa các lứa tuổi, dẫn tới nguy cơ thiếu hụt vận động viên mũi nhọn trong thời gian tới.

15. Thông tin và truyền thông:

Công tác quản lý thông tin báo chí, xuất bản được tăng cường; chất lượng giao ban báo chí định kỳ hàng tháng, họp báo, gặp mặt báo chí hàng quý được nâng cao; công tác thông tin tuyên truyền, thông tin cơ sở, thông tin đối ngoại được đảm bảo để phục vụ chỉ đạo, điều hành của các cấp. Hạ tầng bưu chính, viễn thông, mạng lưới phát thanh - truyền hình không ngừng được đầu tư, nâng cấp mở rộng về khu vực nông thôn, miền núi đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh của tỉnh, việc chỉnh trang cáp thông tin được triển khai thực hiện.

Công tác đảm bảo an toàn, an ninh thông tin được đảm bảo; Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin vào cải cách hành chính, các dịch vụ công mức độ 3 và 4 được tăng cường triển khai; nghiên cứu, triển khai thử nghiệm công nghệ Apps về theo dõi văn bản đi, đến của Hệ thống QLVB&ĐH, công nghệ Apps về nhận tin tức liên quan đến tỉnh Quảng Bình trên điện thoại thông minh; tiếp tục triển khai hệ thống một cửa đến cấp huyện, cấp xã; xây dựng Chính quyền điện tử tỉnh Quảng Bình.

Tuy vậy, việc quản lý thông tin trên báo điện tử, theo dõi thông tin xấu, độc trên mạng còn gặp nhiều khó khăn; Xếp hạng chỉ số ứng dụng CNTT trong cải cách hành chính của tỉnh Quảng Bình còn thấp; Công tác phát triển hạ tầng viễn thông đến vùng sâu, vùng xa chưa kịp thời và còn gặp nhiều khó khăn.

16.  Lao động, Thương binh và Xã hội:

Tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình Giảm nghèo và giải quyết việc làm giai đoạn 2016-2020[79]. Chú trọng đào tạo nghề, thực hiện đồng bộ các giải pháp giải quyết việc làm, tăng cường đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài có thời hạn[80]. Trình Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thành lập Trường Cao đẳng Y tế Quảng Bình. Năm 2018, đã giải quyết việc làm cho 36.800 lao động, vượt 2,2% kế hoạch[81]; tỷ lệ hộ nghèo giảm 2,5% so với năm 2017, đưa tỷ lệ hộ nghèo còn 6,98%.

Giải quyết kịp thời các chế độ chính sách, các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng đạt kết quả tốt[82]. Công tác an sinh xã hội, bảo trợ xã hội tiếp tục được quan tâm[83]. Tiếp tục triển khai có kết quả các hoạt động bảo vệ và chăm sóc trẻ em theo kế hoạch. Thực hiện tốt công tác bình đẳng giới, công tác phòng chống tệ nạn xã hội.

Tuy vậy, Chất lượng nguồn lao động, năng suất lao động còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động. Một số địa phương chưa thực sự chú trọng đến công tác tuyên truyền chính sách đối với người có công. Tình hình tai nạn thương tích đối với trẻ em vẫn còn xảy ra. Công tác quản lý, hỗ trợ đối tượng sau cai ở nhiều xã, phường chưa được quan tâm. Tỷ lệ hộ nghèo còn cao.

17. Thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo:

Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ sản xuất, đời sống của đồng bào dân tộc thông qua việc triển khai các chương trình, dự án[84], nhờ đó sản xuất và đời sống của đồng bào dân tộc được quan tâm và có bước cải thiện; chất lượng các hoạt động y tế, giáo dục, văn hóa, thông tin phục vụ đồng bào dân tộc ngày càng được nâng lên. Phong trào xây dựng nông thôn mới được đẩy mạnh, bộ mặt nông thôn vùng dân tộc và miền núi có nhiều khởi sắc.

Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo được chú trọng[85]. Hoạt động tôn giáo trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Tổ chức sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo cơ bản đúng quy định. Phần lớn các chức sắc, chức việc, giáo dân, tín đồ phật tử tuân thủ quy định của Nhà nước, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh trật tự ở địa phương.

Bên cạnh những kết quả đạt được, sản xuất vùng đồng bào dân tộc còn chậm phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo và nguy cơ tái nghèo cao. Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở một số địa phương vẫn còn chưa chủ động, công tác theo dõi, kiểm tra giám sát chưa thường xuyên dẫn đến tình trạng một số vụ việc vi phạm kéo dài, gây mất ổn định trật tự xã hội.

18. Công tác tổ chức bộ máy, xây dựng chính quyền:

18.1. Tổ chức bộ máy:

Công tác xây dựng chính quyền được quan tâm, rà soát; tiếp tục thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy trong các cơ quan, đơn vị, địa phương để tránh sự chồng chéo, trùng lắp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị[86]; xây dựng và triển khai Đề án sắp xếp, kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2017 – 2020[87]. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ công chức trong toàn tỉnh được triển khai có hiệu quả, số lượng cán bộ công chức, viên chức tham gia các khóa đào tạo ngày càng cao. Công tác bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, điều động, luân chuyển, biệt phái, nâng bậc lương, bổ nhiệm ngạch, chuyển ngạch, thay đổi chức danh nghề nghiệp, đánh giá, phân loại, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức từng bước được đẩy mạnh và đi vào nền nếp. Việc sử dụng và quản lý cán bộ, công chức, viên chức đúng quy định, tổ chức tốt việc tuyển dụng công chức, viên chức, thi nâng ngạch công chức, thi thăng hạng viên chức. Thực hiện tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo đúng lộ trình[88]. Triển khai quyết liệt Quy định số 01-QĐ/TU ngày 03/3/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Bình về trách nhiệm và xử lý trách nhiệm đối với người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan, đơn vị nhằm tăng cường kỷ luật, xiết chặt kỷ cương hành chính.

18.2. Công tác cải cách hành chính:

Đã hoàn thành Chương trình, Kế hoạch CCHC năm 2018 của tỉnh, góp phần xây dựng các cơ quan, đơn vị ngày càng vững mạnh[89]. Thông qua các giải pháp về đổi mới phương thức theo dõi, đánh giá tình hình triển khai nhiệm vụ CCHC; đánh giá Chỉ số CCHC, Chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước đối với chất lượng dịch vụ sự nghiệp công, công tác CCHC đã đạt nhiều kết quả đáng khích lệ trên từng lĩnh vực, đóng góp quan trọng vào thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

18.3. Công tác thi đua khen thưởng:

Công tác thi đua, khen thưởng đã có nhiều chuyển biến tích cực, các phong trào thi đua tiếp tục được đổi mới với nội dung thiết thực, bám sát việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách với nhiều hình thức phong phú. Quyết định tặng thưởng cho các cá nhân, tập thể đạt thành tích cao trong năm 2018[90]. Tổ chức tốt Lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi thi đua Ái quốc (11/6/1948 - 11/6/2018); Kế hoạch tổ chức các hoạt động Kỷ niệm 30 năm Ngày tái lập tỉnh (01/7/1989 - 01/7/2019) và 70 năm Ngày Quảng Bình quật khởi (15/7/1949-15/7/2019);

Bên cạnh những kết quả đạt được, việc sắp xếp, kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động các đơn vị sự nghiệp công lập còn gặp nhiều khó khăn, thực hiện tinh giản biên chế đạt hiệu quả chưa cao; tổ chức bộ máy các cơ quan nhà nước chưa đạt yêu cầu tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; công tác cải cách hành chính ở  một số địa phương hiệu quả chưa cao; việc đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức còn hạn chế.

19. Công tác thanh tra, tư pháp, phòng chống tham nhũng:

19.1. Công tác tư pháp:

Chất lượng soạn thảo, góp ý, thẩm định các dự thảo văn bản QPPL của HĐND, UBND ngày càng nâng cao, đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp và tính khả thi. Công tác rà soát, kiểm tra, tự kiểm tra văn bản QPPL được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc[91]. Công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật đã bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương; hướng về cơ sở, quan tâm các đối tượng đặc thù, địa bàn trọng điểm, vừa thực hiện đại trà, vừa có trọng tâm. Các hình thức tuyên truyền phổ biến ngày càng đa dạng, phong phú, quan tâm ứng dụng công nghệ thông tin trong phổ biến giáo dục pháp luật[92]. Công tác xây dựng xã, phường, thị trấn đạt chuẩn tiếp cận pháp luật ở cơ sở được thực hiện nghiêm túc gắn với nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh. Hoạt động tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý cho người nghèo và các đối tượng chính sách tiếp tục được tăng cường; Công tác đăng ký quản lý hộ tịch, lý lịch tư pháp tiếp tục được triển khai kịp thời, đúng trình tự, thủ tục[93]. Công tác quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, theo dõi thi hành pháp luật, xử lý vi phạm hành chính, pháp chế, công chứng, đấu giá tiếp tục được triển khai thực hiện có nền nếp[94]. Các TTHC trong lĩnh vực tư pháp được minh bạch, công khai, bước đầu thực hiện có hiệu quả việc rút ngắn 10% thời gian giải quyết TTHC theo quy định của pháp luật; tiếp tục ứng dụng quy trình ISO và ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết TTHC và trong quản lý, điều hành.

19.2. Công tác thanh tra; giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng chống tham nhũng:

Công tác thanh tra tiếp tục được đẩy mạnh, thực hiện theo đúng kế hoạch và triển khai nhiều cuộc thanh tra đột xuất, tập trung vào các lĩnh vực quản lý đầu tư xây dựng, quản lý, sử dụng đất, quản lý tài chính, ngân sách, đầu tư mua sắm trang thiết bị và thuốc chữa bệnh, thực hiện nghĩa vụ ngân sách nhà nước. Trong năm, ngành thanh tra đã triển khai 282 cuộc thanh tra, kiểm tra, phát hiện sai phạm 25,8 tỷ đồng; kiến nghị thu hồi và xử phạt vi phạm hành chính 17,6 tỷ đồng; thu hồi 3 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; tịch thu tài sản vi phạm 1,1 tỷ đồng. Đã thu hồi 15 tỷ đồng nộp ngân sách nhà nước.

Các cơ quan hành chính các cấp trong tỉnh đã tăng cường thực hiện nhiệm vụ tiếp công dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân, nhất là các vấn đề liên quan đến bồi thường thiệt hại do sự cố ô nhiễm môi trường biển, không để phát sinh thành điểm nóng. Các ngành, các cấp trên địa bàn đã tiếp 1.827 lượt công dân[95]. Qua giải quyết khiếu nại, tố cáo đã kiến nghị thu hồi cho nhà nước số tiền 520,3 triệu đồng và 686m2; trả lại cho công dân số tiền 3,5 tỷ đồng; thu hồi 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do văn bản phân chia tài sản thừa kế trái pháp luật với diện tích 855m2; hỗ trợ cho 01 cơ sở kinh doanh bị thiệt hại do sự cố ô nhiễm môi trường biển; xử lý 14 tổ chức và 74 cá nhân.

Bên cạnh những kết quả đạt được, một số địa phương chỉ đạo, điều hành công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo còn chưa quyết liệt; đơn thư khiếu nại, tố cáo còn nhiều, giải quyết một số vụ việc chưa dứt điểm, kéo dài, vẫn còn tình trạng tái khiếu, tái tố. Nguồn lực triển khai công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật còn thiếu ; Chính sách cho công tác hòa giải và hòa giải viên còn khó khăn; Điều kiện, phương tiện, cơ sở vật chất, chế độ chính sách cho Trợ giúp viên pháp lý chưa đáp ứng yêu cầu, chưa tương xứng với nhiệm vụ được giao.

20. Quốc phòng, an ninh:

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và an ninh biên giới năm 2018 cơ bản ổn định. Lực lượng chức năng thường xuyên nắm bắt tình hình, đã chủ động tham mưu cấp ủy, chính quyền giải quyết tốt các vấn đề phức tạp về an ninh quốc gia, trọng tâm là tham mưu giải quyết ổn định ngay từ cơ sở hoạt động tập trung đông người khiếu kiện; ngăn chặn ý đồ tổ chức biểu tình kỷ niệm 02 năm xảy ra sự cố ô nhiễm môi trường biển. Tập trung đấu tranh có hiệu quả với các đối tượng chống đối chính trị, cực đoan trong Công giáo. Bảo vệ an toàn tuyệt đối các đoàn cấp cao và đoàn quốc tế[96]. Đấu tranh quyết liệt, có hiệu quả, góp phần kiềm chế tội phạm, các hành vi vi phạm pháp luật[97]. Tích cực triển khai các biện pháp quyết liệt nhằm đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh, năm 2018 giảm cả 3 tiêu chí về số vụ, số người chết và số người bị thương so với năm 2017[98]. Công tác quân sự - quốc phòng được chú trọng đẩy mạnh thực hiện toàn diện, duy trì nghiêm các trạng thái sẵn sàng chiến đấu ở các cấp. Thực hiện tốt nhiệm vụ tuyển quân năm 2018 an toàn, đúng luật, đạt 100% chỉ tiêu và chất lượng. Tiếp tục thực hiện công tác đối ngoại biên phòng, giải quyết các vấn đề liên quan về biên giới. Tổ chức diễn tập phòng thủ tại thành phố Đồng Hới và huyện Bố Trạch đạt mục đích, yêu cầu đề ra, bảo đảm an toàn tuyệt đối về người, vũ khí trang bị và phương tiện kỹ thuật.

Bên cạnh những kết quả đạt được, tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội một số địa phương, nhất là những địa phương có tranh chấp đất đai, có giải phóng mặt bằng, có triển khai các công trình trọng điểm còn diễn biến phức tạp.

21. Công tác chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp

Chính quyền các cấp đã nghiêm túc triển khai thực hiện các giải pháp chỉ đạo, điều hành của Chính phủ. Công tác chỉ đạo, điều hành được triển khai toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Quan tâm chỉ đạo những lĩnh vực trọng tâm, các dự án, công trình trọng điểm; tổ chức gặp mặt để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp; chỉ đạo triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới; đẩy mạnh thu hút đầu tư; giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo; cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí; tăng cường quốc phòng - an ninh, giữ vững trật tự an toàn xã hội...

Một số chỉ tiêu còn đạt thấp, nhất là nhóm chỉ tiêu về kinh tế; một số lĩnh vực phát triển chưa đáp ứng yêu cầu đề ra, ngoài lý do khách quan đã nêu trên, có một phần là do trách nhiệm, năng lực điều hành của các cấp, các ngành còn có mặt hạn chế; việc chỉ đạo, điều hành ở một số khâu, một số lĩnh vực, một số việc có lúc chưa kịp thời, mạnh mẽ và quyết liệt. Trong bối cảnh phải đối mặt nhiều khó khăn, những kết quả đạt được trong năm 2018 là hết sức quan trọng, tạo điều kiện để hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trong các năm tiếp theo.


[1](i) Tăng trưởng giá trị sản xuất công nghiệp (đạt 8,14%/KH 8,5%), nguyên nhân là do trong năm 2018 chưa có dự án công nghiệp lớn nào được đưa vào sản xuất, chỉ có một số dự án quy mô nhỏ, đóng góp năng lực không đáng kể; một số sản phẩm chủ yếu của tỉnh đạt thấp so với kế hoạch (bia, may, thanh nhôm, cao su...) đã ảnh hưởng đến tăng trưởng GTSX công nghiệp. (ii) Tỷ lệ xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế (đạt 85,5%/KH 88,6%), nguyên nhân trong năm 2018, có thêm 09 xã đạt chuẩn Quốc gia về y tế; tuy nhiên, khi thẩm định các xã đã đạt tiêu chí Quốc gia về y tế (theo quy định 3 năm thẩm định lại), có 10 xã phúc tra lại không đạt nên hiện nay chỉ có136 xã (85,5%) đạt Bộ tiêu chí. (iii) Giá trị sản xuất dịch vụ (đạt 6,72/7,5%), nguyên nhân, Khu vực dịch vụ có 15 ngành ngành kinh tế cấp 1, tuy năm 2018 khách du lịch đến tỉnh tăng nhanh nhưng du lịch chỉ chiếm khoảng khoảng 5% giá trị ngành dịch vụ; khối ngành sử dụng ngân sách nhà nước có đóng góp lớn (15%) nhưng có mức tăng trưởng thấp từ 5-7%, do có tăng lương cơ bản nhưng cả nước đang trong quá trình thắt chặt chi tiêu; một số ngành tăng trưởng thấp, như: kinh doanh bất động sản tăng 4,7%; Thông tin và truyền thông tăng 6%; ngành giáo dục và đào tạo tăng 6,9%;ngành hoạt động chuyên môn khoa học và công nghệ tăng 6,4%.... 

[2] Điều chỉnh quy hoạch chi tiết quần thể Tượng đài Hồ Chí Minh, Quy hoạch chi tiết xây dựng Khu công nghiệp cửa ngõ phía Tây Khu công nghiệp Hòn La; điều chỉnh quy hoạch phân khu phía Nam xã Bảo Ninh; Quy hoạch chi tiết hệ thống Zipline đa phương thức dài nhất thế giới và tổ hợp các sản phẩm du lịch đẳng cấp Quốc tế; Nhiệm vụ quy hoạch phân khu xã Phong Thuỷ, Liên Thuỷ thuộc đô thị Kiến Giang; điều chỉnh Quy hoạch chi tiết Khu du lịch nghỉ dưỡng, thể thao, thương mại và giải trí cao cấp FLC, tại xã Hải Ninh và xã Hồng Thuỷ của Công ty Cổ phần Tập đoàn FLC; Quy hoạch chi tiết điều chỉnh Khu Trung tâm hành chính tỉnh;...

[3] Các dự án đã triển khai các năm trước đây đang triển khai thi công phần hạ tầng kỹ thuật của dự án, một số dự án đã hoàn thiện (Khu nhà ở thương mại tại phường Đức Ninh Đông, khu NOTM Mỹ Cảnh, Khu NOTM Trường Thịnh) và cơ bản hoàn thiện (khu NOTM phía Bắc đường Trần Quang Khải); có dự án đang triển khai thi công hạ tầng (Khu đô thị mới Phú Hải). Các dự án mới ký kết hợp đồng năm 2018, hầu hết đã bắt đầu triển khai thi công phần hạ tầng kỹ thuật, một số dự án đã triển khai nhanh, tiến độ hoàn thiện đạt cao như 04 dự án NOTM ở huyện Bố Trạch. Các dự án còn lại đang trong quá trình giải phóng  mặt bằng, lập thiết kế dự án, lập ĐMT, …

[4] Trong đó: Giá trị sản xuất nông nghiệp 5.534 tỷ đồng, tăng 2,2% so với năm trước và đạt 100,7% kế hoạch; giá trị sản xuất lâm nghiệp 574 tỷ đồng, tăng 8,5% so với năm trước và đạt 107,1% kế hoạch; giá trị sản xuất thuỷ sản 2.331 tỷ đồng, tăng 8,2% so với năm trước và đạt 97,0% kế hoạch.

[5] Trong đó: Diện tích vụ Đông Xuân 54.732 ha, giảm 0,7%; diện tích vụ Hè Thu 30.448 ha, giảm 4,2%; diện tích vụ Mùa 576 ha, tăng 2,1% so cùng kỳ. Do vụ Đông Xuân có rét đậm, rét hại kéo dài, nhiều diện tích phải gieo trồng lại; vụ Hè Thu nắng nóng kéo dài, nhiều diện tích xa nguồn nước không thể triển khai gieo trồng phải chuyển đổi hoặc bỏ hoang nên diện tích gieo trồng cả hai vụ sản xuất đều giảm.

[6] Dự ước cây lúa cả năm đạt 52,42 tạ/ha, tăng 2%; Cây ngô đạt 54,54 tạ/ha, tăng 5,7%; cây khoai lang đạt 73,94 tạ/ha, tăng 1,1%; cây lạc đạt 23,14 tạ/ha, tăng 7,1%; cây vừng đạt 6,61 tạ/ha, giảm 1,5%; cây rau các loại đạt 108,37 tạ/ha, tăng 1,8%;…

[7] Trong đó sản lượng lúa đạt 284.584 tấn, giảm 0,01 so với năm trước, đạt 109,3% kế hoạch; sản lượng lương thực khác đạt 25.922 tấn, tăng 2,0% so với năm trước, đạt 105,6% kế hoạch.

[8] Với diện tích 6.659 ha (lúa 3.144 ha, sắn 3.310 ha, ngô 50ha, lạc 200 ha); khoảng 90% sản lượng được DN bao tiêu, lợi nhuận tăng 16-21%.

[9] Như: thâm canh lúa cải tiến SRI (5.375ha); sản xuất an toàn theo hướng VietGAP cho Dưa hấu Hàm Ninh; Rau các loại ở Quảng Long, Tỏi Quảng Hòa; sử dụng hệ thống tưới nhỏ giọt công nghệ Israel cho trồng hồ tiêu, cây ăn quả tiết kiệm nước, chống hạn trong mùa Hè; trồng cây trên giá thể...

[10] Ước tính tổng diện tích gieo trồng cây lâu năm toàn tỉnh thực hiện 19.992 ha, tăng 3,6% so năm trước.

[11] Trong năm, đã chuyển đổi trên đất gò đồi 162,9 ha (Bố Trạch 55 ha; Minh Hóa 29,5 ha; Quảng Trạch 27 ha; Lệ Thủy 26,4 ha, Quảng Ninh 25 ha), chủ yếu chuyển qua trồng cây ăn quả, hồ tiêu, cây dược liệu.

[12] Ước tính đàn gia súc, gia cầm tại thời điểm 01/10/2018: Đàn trâu 38.130 con, tăng 0,3%; đàn bò 108.200 con, tăng 0,7%; đàn lợn 335.829 con, tăng 1,6%; đàn gia cầm 3.680 ngàn con, tăng 3,4%; trong đó đàn gà 2.920 ngàn con, tăng 5,1% so cùng kỳ.

[13] Dự án Chăn nuôi bò của Tập đoàn Hòa Phát; Chăn nuôi của Quảng Bình Milk; Dự án nuôi bò Kobe Công ty Lê Dũng Linh…

[14] Cụ thể: Thịt trâu 2.070 tấn, tăng 0,1%; thịt bò 6.525 tấn, tăng 7,4%; thịt lợn 55.308 tấn, tăng 4,9%; thịt gia cầm 15.415 tấn, tăng 5,5% so cùng kỳ.

[15] Trồng rừng tập trung 5.500 ha, tăng 10,0% so năm trước và đạt 110% kế hoạch; chăm sóc rừng trồng 18.300 ha, tăng 0,8% so năm trước và đạt 115% kế hoạch

[16] Gồm: Nhà máy sản xuất gỗ OKAL, OSB và gỗ ván thanh; Nhà máy sản xuất ván ép công nghiệp; Nhà máy sản xuất gỗ ván ép Sơn Kim; Nhà máy SX gỗ ván ép, gỗ ván sợi MDF, Gỗ ván ghép thanh Quảng Bình.

[17] Về thực hiện QĐ 48/2010/QĐ-TTg: Lũy kế từ khi thực hiện đến nay có 1.201 tàu lắp đặt đài tàu, 1.196 tàu đã tham gia khai thác vùng biển xa, đã thẩm định 1.383 tỷ đồng, giải ngân 1.213,4 tỷ đồng. Đến nay, cơ bản các địa phương đã hoàn thành công tác bồi thường sự cố môi trường biển, đã chi trả 2.742 tỷ đồng, góp phần phục hồi sản xuất, ổn định đời sống cho ngư dân ven biển.

[18] Năm 2018, số lượng tàu, thuyền khai thác thủy sản có động cơ 7.537 chiếc, tăng 0,8% so năm trước. Trong đó, tàu có công suất từ 20 CV trở lên 2.353 chiếc, tăng 0,4% so năm trước.

[19] Trong đó: Dự ước sản lượng khai thác đạt 64.301 tấn, tăng 8,1% so cùng kỳ, đạt 109% kế hoạch; Sản lượng nuôi trồng đạt 12.203 tấn, tăng 4,5% so năm trước và đạt 101,7% kế hoạch.

[20] Toàn tỉnh có 36 xã bị sụt giảm tiêu chí (23 xã đã đạt chuẩn NTM); tổng tiêu chí bị sụt giảm là 62 tiêu chí, nhất là tiêu chí số 13. Đến nay có 29 xã đạt chuẩn NTM theo Bộ tiêu chí mới giai đoạn 2016- 2020; số xã 15-18 tiêu chí: 47 xã; số xã 10-14 tiêu chí: 38 xã; số xã 5-9 tiêu chí: 22 xã; không còn xã dưới 5 tiêu chí.

[21] Như bộ máy Văn phòng Điều phối; phong trào “mô hình mẫu” gồm xã nông thôn mới kiểu mẫu, khu dân cư kiểu mẫu, vườn mẫu, đoạn đường tự quản kiểu mẫu và phong trào “ Ngày nông thôn mới” của huyện Lệ Thủy

[22] Trong đó: ngành khai khoáng thực hiện 439 tỷ đồng; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thực hiện 10.713 tỷ đồng; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí thực hiện 185 tỷ đồng; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải thực hiện 97 tỷ đồng.

[23] Một số địa phương du nhập phát triển nghề mới, hình thành các doanh nghiệp đầu mối cung cấp nguyên liệu và thu mua sản phẩm cho người lao động. Điển hình là các ngành nghề: Mây tre đan xuất khẩu, Nón lá; mộc mỹ nghệ, sản xuất rượu, nước tinh khiết, sản xuất vật liệu xây dựng, cơ khí sửa chữa...

[24] Đá xây dựng đạt 3,0 triệu m3, tăng 7,4%; mực đông lạnh đạt 900 tấn, tăng 18,6%; áo sơ mi đạt 14 triệu cái, tăng 14,0%; gạch lát nền đạt 3,96 triệu viên, tăng 25,2%; gạch xây dựng đạt 251 triệu viên, tăng 5,5%; clinker thành phẩm đạt 3,1 triệu tấn, tăng 1,7%; xi măng đạt 1,5 triệu tấn, tăng 3,3%; điện thương phẩm đạt 980 triệu Kwh, tăng 6,9% so cùng kỳ.

[25] nhà máy May S&D Quảng Bình giai đoạn 2 và may Lệ Thủy thiếu lao động; nhà máy nhôm của công ty TNHH New Asia và các nhà máy gạch không nung chỉ phát huy 30-40% công suất...

[26] Năm 2018, lực lượng quản lý thị trường Quảng Bình đã kiểm tra 1.022 trường hợp, phát hiện và xử lý 669 vụ vi phạm (764 hành vi vi phạm), trong đó: phạt tiền 708 hành vi, phạt cảnh cáo 04 hành vi, tịch thu hàng hóa không xác định người vi phạm 52 hành vi. Tổng số tiền phạt vi phạm hành chính, tiền bán hàng tịch thu, trị giá hơn 7,6 tỷ đồng. Số tiền đã nộp ngân sách nhà nước: hơn 4 tỷ đồng.

[27] Tổ chức các hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch trong khuôn khổ Hội chợ du lịch quốc tế TP. Hồ Chí Minh lần thứ 14. Phối hợp với Tổng cục Du lịch tham gia quảng bá và xúc tiến du lịch tại hội chợ du lịch lớn nhất thế giới ITB Berlin. Tổ chức chương trình trao đổi, liên kết hợp tác phát triển du lịch với tỉnh Bến Tre và các tỉnh phía đông khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Tổ chức Hội nghị kết nối du lịch Quảng Bình - Nakon Phanom (Thái Lan). Tham gia chương trình giới thiệu, quảng bá du lịch các tỉnh Bắc miền Trung tại Thủ đô Viêng Chăn (CHDCND Lào) và Udonthani (Thái Lan)…

[28] Thử nghiệm các tuyến du lịch khám phá thiên nhiên và tìm hiểu văn hóa cộng đồng người Arem - Ma Coong, tuyến du lịch khám phá hang Đại Ả, hang Over, hang Pygmy; sản phẩm du lịch khám phá thiên nhiên và tìm hiểu văn hoá cộng đồng người Vân Kiều ở huyện Quảng Ninh và Lệ Thuỷ, sản phẩm du lịch khám phá hang Ô Rô – hang Hoàn Mỹ, đề án mở rộng Điểm du lịch sinh thái và diễn giải Vườn Thực Vật. Tour du lịch khám phá hang Va, hang Nước Nứt - Những trải nghiệm khác biệt”;…

[29] Đã tổ chức thành công Hội thi Cá trắm và đua thuyền sông Son; xây dựng cung đường bích họa ở làng biển Cảnh Dương; tổ chức Lễ hội cầu ngư ở Cảnh Dương;… thu hút đông đảo du khách.

[30] Toàn ngành du lịch có khoảng  4.500 lao động trực tiếp và 8.800 lao động gián tiếp.

[31] Về lưu trú du lịch: đến nay, toàn ngành có 297 cơ sở lưu trú du lịch trong đó có 1 khách sạn đạt tiêu chuẩn 5 sao, 5 khách sạn đạt tiêu chuẩn 4 sao, 8 khách sạn 3 sao, 29 khách sạn 2 sao, 36 khách sạn 1 sao, với khoảng 5.100 buồng, khoảng 10.000 giường. Về lữ hành: toàn tỉnh hiện có 40 đơn vị lữ hành đăng ký hoạt động, trong đó có 14 đơn vị lữ hành quốc tế và 26 đơn vị lữ hành nội địa.

[32]trong đó khách quốc tế ước đạt 180.000 lượt, tăng 38,5% so cùng kỳ; Tổng doanh thu du lịch ước đạt 4.255 tỷ đồng, tăng 12,1% so cùng kỳ; Nộp ngân sách ước đạt: 158,7 tỷ đồng, tăng 10% so cùng kỳ

[33]Thu nội địa ước 3.850.000 triệu đồng, đạt 114,2% so dự toán; thu thuế xuất nhập khẩu ước 150.000 triệu đồng, đạt 115,3% dự toán giao.

[34] Chi đầu tư phát triển 3.918.257 triệu đồng; chi thường xuyên 6.656.113 triệu đồng....

[35] Thu từ doanh nghiệp nhà nước Trung ương , thu từ doanh nghiệp nhà nước địa phương, thu từ khu vực kinh tế ngoài quốc doanh...

[36] Nguyên nhân tăng cao do thay đổi hình thức sở hữu vốn của 2 Nhà máy Xi măng Sông Gianh và Xi măng Văn Hoá thuộc Tập đoàn Siam Cement Group của Thái Lan.

[37] Gồm: Trụ sở làm việc Thành ủy Đồng Hới Trụ sở làm việc HĐND và UBND Thành phố Đồng Hới;... khánh thành đưa vào hoạt động Trung tâm văn hóa tỉnh.

[38] Giai đoạn 2018-2019: 100% các thông tin trong quá trình lựa chọn nhà thầu, thực hiện hợp đồng được đăng tải công khai trên Hệ thống mạng đấu thầu quốc gia; Thực hiện tối thiểu 50% số lượng các gói thầu chào hàng cạnh tranh, 40% số lượng các gói thầu quy mô nhỏ đấu thầu rộng rãi, đấu thầu hạn chế.

[39] Dự án thoát nước và vệ sinh môi trường đô thị Ba Đồn; Dự án cung cấp điện bằng năng lượng mặt trời cho các bản của những xã điện lưới quốc gia không đến được.

[40] Đối với các dự án khởi công mới và đang vận động: Dự án Tăng cường quản lý đất đai và cơ sở dự liệu đất đai (WB); Dự án Môi trường bền vững các thành phố duyên hải tiểu dự án Thành phố Đồng Hới (WB), Dự án hạ tầng cơ bản cho tăng trưởng toàn diện các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị (ADB); Đã ký kết hiệp định, đang thực hiện thủ tục điều chỉnh dự án phù hợp: Dư án Hiện đại hóa ngành Lâm nghiệp và Tăng cường tính chống chịu vùng ven biển (WB); Đang làm thủ tục phục vụ trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chủ trương đầu tư: Dự án cấp nước sinh hoạt huyện Quảng Trạch giai đoạn 2.

[41] Trong năm 2018, đã tiếp nhận được 10 dự án, với tổng số vốn cam kết 1,08 triệu USD, giúp người dân giảm nghèo bền vững, góp phần phát triển kinh tế xã hội địa phương.

[42] Đối với dự án Hạ tầng kỹ thuật khu vui chơi giải trí thuộc khu công viên Cầu Rào: Hiện nay, dự án đang triển khai giải phóng mặt bằng; Đối với dự án Chợ thủy sản - Cầu tàu phường Quảng Phúc thị xã Ba Đồn: Hiện nay đang triển khai thi công dự án tiến độ thi công đảm bảo theo hợp đồng ký kết.

[43] Trung tâm thể dục thể thao huyện Lệ Thủy; Tuyến đường 27m từ đường Tây Hồ đi đường Nguyễn Tất Thành (Tỉnh lộ 565); Nâng cấp, mở rộng tuyến đường Tả ngạn sông Kiến Giang, huyện Lệ Thủy.

[44] Trong đó: 19 dự án FDI, 335 dự án nhà đầu tư trong nước

[45] Dự án Trung tâm thương mại Vincom đã đi vào hoạt động. Dự án của Tập đoàn FLC: Các sở, ngành, đơn vị, địa phương đã tích cực phối hợp, hỗ trợ Tập đoàn FLC triển khai thực hiện Dự án theo phân công nhiệm vụ được giao. Dự án Nhà máy nhiệt điện Quảng Trạch I: Tập đoàn Điện lực Việt Nam đang tích cực phối hợp với UBND tỉnh thực hiện công tác bồi thường giải phóng mặt bằng. Dự án Nhiệt điện Quảng Trạch II: Đã thực hiện lựa chọn nhà thầu tư vấn và đang chuẩn bị tiến hành công tác khảo sát, lập báo cáo nghiên cứu khả thi dự án. Các Dự án điện mặt trời và điện gió: Dự án điện mặt trời của Tập đoàn Dohwa, đang thực hiện thu xếp vốn; Dự án điện mặt trời của Công ty TNHH Tập đoàn Sơn Hải đã trình Bộ Công Thương thẩm định, phê duyệt bổ sung vào quy hoạch phát triển điện lực của tỉnh; Dự án điện gió của Công ty B&T đang rà soát lại vị trí khảo sát đầu tư dự án; Dự án điện gió của Công ty Tân Hoàn Cầu đang thực hiện đo gió tại Bãi Dinh.

[46] Gồm: (Dự án Hệ thống thu hồi nhiệt thải phát điện của CTCP Xi măng Sông Gianh với vốn đầu tư 10,67 triệu USD; Dự án LOTTECINEMA Đồng Hới với vốn đầu tư 2,4 triệu USD; Dự án Nhà máy chế tạo thiết bị công nghiệp, bồn áp lực, xây dựng và lắp đặt nhà tiền chế, công trình công nghiệp với số vốn đầu tư 3,5 triệu USD; Dự án Nhà máy sản xuất bê tông thương phẩm với số vốn đầu tư 0,65 triệu USD.

[47] Thực hiện thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 05 dự án FDI, trong đó, có 02 dự án điều chỉnh tăng vốn đầu tư thêm 11,72 triệu USD.

[48] Chương trình MTQG: thủ tục đầu tư các dự án theo hướng dẫn của TW còn kéo dài, thông báo kế hoạch vốn chậm nên tỷ lệ giải ngân thấp; Vốn TP Chính phủ giao cho 01 công trình với hạn mức lớn nên không giải ngân hết...

[49] Có 27 dự án chậm tiến độ (25 DA trong nước và 2 DA FDI), nguyên nhân chậm tiến độ:(i) Do hầu hết các dự án không thuộc trường hợp nhà nước thu hồi đất, nhà đầu tư phải tự thoả thuận bồi thường, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để thực hiện dự án nên kéo dài thời gian (ii) Một số dự án phải thực hiện điều chỉnh vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hàng năm (iii) Một số dự án thực hiện thủ tục tham vấn cộng đồng trong quá trình thẩm định Báo cáo Đánh giá tác động môi trường gặp rất nhiều khó khăn do chưa nhận được sự đồng thuận của nhân dân.

[50] Phối hợp với các cơ quan chức năng xử lý kịp thời 03 vụ việc liên quan đến công dân của tỉnh xảy ra ở nước ngoài và 08 vụ việc liên quan đến người nước ngoài xảy ra trên địa bàn tỉnh.

[51] Tập đoàn SCG (Thái Lan) khảo sát, đầu tư nhà máy trộn bê tông tươi; Tập đoàn Pacific Healthcare nghiên cứu đầu tư bệnh viện quốc tế; Đoàn các doanh nghiệp Nhật Bản khảo sát đầu tư nhà máy dăm gỗ, nhà máy may mặc; Làm việc với Đoàn khỏa sát thực địa kinderWorld; Công ty UPC Renewables Asia I Limited; Công ty CP Toàn cầu TMS, Tập đoàn Southeast Aisa Capital...

[52] Đã hỗ trợ 03 doanh nghiệp với số tiền 2,5 tỷ đồng.

[53] Trong đó, trao Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 36 dự án của 23 nhà đầu tư với tổng vốn đầu tư 29.717 tỷ đồng, tương đương 1,29 tỷ USD; trao thỏa thuận hợp tác đầu tư cho 30 dự án của 24 nhà đầu tư với tổng vốn đầu tư 139.152 tỷ đồng, tương đương 6,05 tỷ USD.

[54] Gồm: 04 công ty TNHH MTV do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ; 03 công ty cổ phần Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ thực hiện hoàn thành cổ phần hoá trong giai đoạn 2011-2016; 02 công ty TNHH MTV đã thực hiện cổ phần hoá và chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ từ tháng 10/2017.

[55] Theo Quyết định số 1232/QĐ-TTg ngày 17/8/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục doanh nghiệp có vốn nhà nước thực hiện thoái vốn giai đoạn 2017-2020

[56] Có 02 doanh nghiệp đã bán cổ phần ra bên ngoài theo phương án đã phê duyệt gồm: Công ty Cổ phần Cấp nước Quảng Bình và Công ty CP Môi trường và Phát triển đô thị Quảng Bình.

[57] UBND tỉnh đã phê duyệt Phương án cơ cấu lại của Công ty TNHH MTV Xổ số Kiến thiết Quảng Bình; Công ty TNHH MTV Khai thác Công trình thuỷ lợi.

[58] Trong năm 2018, có 255 doanh nghiệp thực hiện thủ tục đăng ký tạm ngừng hoạt động, 25 doanh nghiệp tiến hành giải thể tự nguyện và 3 doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

[59] Số lượng hợp tác xã trong toàn tỉnh đến nay có 282 HTX, trong đó thành lập mới 13 HTX, giải thể 5 HTX. Số HTX đã chuyển đổi theo Luật HTX năm 2012: 263/282 (còn 19 HTX chưa chuyển đổi hoặc chờ làm thủ tục giải thể, chuyển hình thức sản xuất kinh doanh).

[60] Tiếp nhận, xử lý 113 hồ sơ giao đất (208,42 ha); 71 hồ sơ cho thuê đất (102,53 ha); 09 hồ sơ thu hồi đất (22,68 ha); 16 hồ sơ định giá đất và 10 hồ sơ giải phóng mặt bằng (95.699,4 m2); 46.762 hồ sơ đăng ký giao dịch bảo đảm quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.

Đến nay, kết quả cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chung toàn tỉnh đã thực hiện được 541.473 giấy với diện tích 593.803,20 ha/617.708,50 ha, đạt 96,13%.

[61] Đã Cơ bản hoàn thành công tác đo đạc bóc tách diện tích đất các công ty nông, lâm nghiệp bàn giao cho địa phương quản lý với diện tích thu hồi đất năm 2018 là 9.876 ha.

[62] Hiện nay, toàn tỉnh có 853 trường và cơ sở giáo dục, bao gồm: 254 trường và cơ sở GDMN; 208 trường tiểu học; 19 trường Tiểu học &THCS; 147 trường THCS; 06 trường THCS&THPT; 27 trường THPT;… Tỷ lệ phòng học văn hóa được kiên cố hoá toàn Ngành đạt 76,45% (MN 60,63%; Tiểu học 79,81%; THCS 87,19%; THPT 94,12%); tỷ lệ kiên cố hóa phòng học bộ môn đạt 82,34%; tỷ lệ kiên cố hóa các phòng chức năng, thư viện, thiết bị, thí nghiệm thức hành tăng đáng kể, đạt 71%; 100% các trường phổ thông có thư viện.

[63] Năm học 2017-2018, có 79,5% giáo viên có trình độ trên chuẩn đào tạo (mầm non: 82,3%, Tiểu học: 95%, THCS: 86,9%, THPT: 19,2%).

[64] Kết thúc năm học 2017-2018, có 8/8 huyện, thị xã, TP và 158/159 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập GDMN trẻ 5 tuổi (tỷ lệ 99,4%);  có 159/159 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2 trở lên (tỷ lệ 100%); có 158/159 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập giáo dục THCS mức độ 2 trở lên (tỷ lệ 99,37 %); có 157/159 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn xóa mù chữ mức độ 2 trở lên (tỷ lệ 98,7%).

[65] Trong đó: 83 tr­ường MN, tỷ lệ 45,6%; 167 tr­ường Tiểu học, tỉ lệ 81,1%; 87 trường THCS, tỉ lệ 52,7% và 14 tr­ường THPT,THCS&THPT, tỉ lệ 42,4%.

[66] Quảng Bình được đánh giá một trong những tỉnh đẩy dữ liệu lên cổng giám định đúng thời điểm đạt tỷ lệ cao 96,37%.

[67] 100% thôn, bản có nhân viên y tế, 100% trạm y tế có bác sỹ làm việc, có đủ thuốc thiết yếu phục vụ nhu cầu khám, chữa bệnh.

[68] Tính đến 05/11/2018, số ca sốt xuất huyết là 371 bệnh nhân, tay chân miệng 29 ca. Các dịch bệnh khác không biến động lớn so cùng kỳ.

[69] Toàn tỉnh đã tổ chức thanh kiểm tra về an toàn vệ sinh thực phẩm tại 4.771 cơ sở, trong đó 3.763 cơ sở đạt tiêu chuẩn, tỷ lệ 78,9%; có 1.008 cơ sở vi phạm, chiếm tỷ lệ 21,1%, phạt tiền 9 cơ sở chiếm tỷ lệ 0,2%.

[70] Gồm: Liên hoan Nghệ thuật quần chúng Đàn và Hát dân ca tỉnh Quảng Bình năm 2018; “Hát câu hò khoan nhớ về Đại tướng”; “Bài ca huyền thoại Võ Nguyên Giáp”;…

[71] Tổ chức lớp truyền dạy kỹ năng đàn và hát ca trù năm 2018 cho ca nương, kép đàn của các địa phương trên địa bàn tỉnh; tham gia Lễ vinh danh Nghệ thuật Bài chòi Trung Bộ Việt Nam là Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức tại tỉnh Bình Định; Tham gia ngày hội “Bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc thiểu số miền Trung trong thời kỳ đổi mới – Hội nhập và phát triển bền vững đất nước”;…

[72] Quyết định xếp hạng 5 di tích cấp tỉnh gồm: Trận địa Bắc Ka Tang, xã Lâm Hóa, huyện Tuyên Hóa; Đền thờ Lãnh binh Mai Lượng, xã Cao Quảng, huyện Tuyên Hóa; Chứng tích tội ác chiến tranh thôn Hòa Luật Nam, xã Cam Thủy, huyện Lệ Thủy; Nhà thờ dòng họ Nguyễn Duy, xã Hải Trạch, huyện Bố Trạch; Lăng mộ, nhà thờ Trương Hy Trọng và khu Giang sơn Bến Lội, xã Quảng Minh, thị xã Ba Đồn. Triển lãm chuyên đề “Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam - Những bằng chứng lịch sử và pháp lý”; “Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp”;...

[73] Lễ hội Rằm tháng Ba, huyện Minh Hóa; Lễ hội Đền Thánh mẫu Liễu Hạnh, huyện Quảng Trạch; Lễ hội Đập trống của người Ma Koong, xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch; Lễ hội Danh thắng Thần Đinh, huyện Quảng Ninh; Lễ hội Chùa Hoàng Phục, huyện Lệ Thủy...

[74] Các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao chào năm mới 2018, đón Tết Nguyên đán Mậu Tuất 2018, kỷ niệm 43 năm ngày Giải phóng miền Nam - Thống nhất đất nước và 132 năm Ngày Quốc tế Lao động; 128 năm ngày sinh của Bác Hồ kính yêu và Tuần Văn hóa - Du lịch thành phố Đồng Hới, Tuần lễ Văn hóa - Thể thao - Du lịch và Hội Rằm tháng ba Minh Hóa 2018,...

[75] Nghệ thuật chuyên nghiệp tổ chức nhiều buổi biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị của tỉnh, phục vụ đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa; tham gia nhiều tiết mục quan trọng tại các chương trình như: khai mạc và bế mạc Festival Huế năm 2018, chào mừng lễ kỷ niệm 70 năm Ngày Bác Hồ ra lời kêu gọi thi đua ái quốc,... các đội chiếu phim lưu động thực hiện 665 buổi chiếu phục vụ khoảng 120 ngàn lượt người xem.

[76] Tour I giải Bóng chuyền bãi biển toàn quốc năm 2018; phối hợp đón chặng 4, tổ chức chặng 5 và xất phát chặng 6 giải Xe đạp quốc tế VTV Cúp Tôn Hoa Sen năm 2018.

[77] Đã tổ chức tốt ngày chạy OLYMPIC vì sức khỏe cộng đồng năm 2018 có 8/8 huyện, thị xã, thành phố, 147/159 xã, phường tổ chức, thu hút khoảng 82 ngàn người tham gia; giải Quần vợt tỉnh Quảng Bình năm 2018;..

[78] Thể thao thành tích cao đoạt 146 huy chương các loại, trong đó có 29 HC quốc tế; Tham gia đội tuyển Quốc gia thi đấu tại ASIAD 18, các vận động viên của Quảng Bình đã xuất sắc giành 01 HCV, 01 HCB và 02 HCĐ; tại OLYMPIC trẻ mùa hè Buenos Aires 2018 ở Argentina, VĐV Nguyễn Huy Hoàng của Quảng Bình đã xuất sắc dành HCV nội dung bơi 800m tự do nam, phá kỷ lục quốc gia do chính mình đang nắm giữ.

[79] Tổ chức sơ kết giữa nhiệm kỳ thực hiện Chương trình hành động số 05-CTr/TU ngày 13/7/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về giảm nghèo bền vững và giải quyết việc làm giai đoạn 2016 – 2020; Tổ chức rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2018.

[80] Ước tính đến cuối năm 2018, tuyển sinh 15.628 lao động nghề (đạt 104,8% KH năm). Đã đưa 3.350 lao động đi làm việc ở nước ngoài có thời hạn, vượt 12% KH; Thông báo hơn 40 doanh nghiệp, đơn vị đến tuyển chọn xuất khẩu lao động; Trung tâm Dịch vụ việc làm tổ chức 50 phiên giao dịch việc làm với 4.673 lượt người và 129 doanh nghiệp tham gia, 2.480 lượt người đạt sơ tuyển sau khi phỏng vấn.

[81] Trong đó: tạo việc làm 19.542 người, tạo thêm việc làm 17.208 người, đưa tỷ lệ thất nghiệp xuống còn 1,9%.

[82] Giải quyết trợ cấp hàng tháng gần 700 trường hợp, trợ cấp 1 lần gần 4.500 trường hợp; Tặng quà của Chủ tịch nước gần 27.000 suất với tổng kinh phí 5,465 tỷ đồng. Tổ chức tiếp nhận và an táng 25 hài cốt liệt sỹ.

[83] Phân bổ hơn 2.702 tấn gạo cứu đói cho nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán và thời kỳ giáp hạt; phân bổ 378 triệu đồng để mừng thọ cho 889 cụ tròn 90 và 100 tuổi.

[84] Như: giao đất, giao rừng cho đồng bào dân tộc ổn định sản xuất và đời sống, thực hiện hỗ trợ tín dụng cho đồng bào dân tộc phát triển sản xuất lâm nghiệp, chương trình 135, Nghị quyết 30a của Chính phủ, định canh định cư, hỗ trợ các xã biên giới, hỗ trợ sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số...

[85] Việc xem xét, giải quyết các vấn đề như đất đai, xây dựng, sinh hoạt tôn giáo cũng được cấp uỷ Đảng, chính quyền các cấp cùng với các sở, ngành, địa phương có liên quan quan tâm, giải quyết, từng bước đáp ứng nhu cầu chính đáng của các tổ chức, chức sắc tôn giáo.

[86] Đã thẩm định đề án sáp nhập, hợp nhất 64 phòng, trạm trực thuộc các sở, chi cục thành 27 phòng, trạm (giảm 37 phòng, trạm); giải thể 3 phòng.

[87] Đã thẩm định Đề án sắp xếp, kiện toàn đối với 11 đơn vị sự nghiệp công lập.

[88] Phê duyệt đối tượng tinh giản biên chế bổ sung đợt I/2018 cho 09 trường hợp và thông báo 02 trường hợp không đủ điều kiện tinh giản theo thẩm định của Bộ Nội vụ; Phê duyệt danh sách tinh giản biên chế bổ sung đợt II năm 2018.

[89] UBND tỉnh đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, chương trình, kế hoạch triển khai thực hiện cải cách hành chính; Tổ chức thành công Hội thi “Tuyên truyền cải cách hành chính” cấp xã năm 2018; thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc các sở, ngành, đơn vị triển khai thực hiện công tác cải cách hành chính; Thực hiện chấm điểm, xác định chỉ số CCHC năm 2017, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị, địa phương tự chấm điểm xác định chỉ số CCHC năm 2017. Phê duyệt Đề án "Xác định Chỉ số cải cách hành chính các sở, ban, ngành cấp tỉnh, UBND các huyện, thị xã, thành phố và UBND các xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh".

[90]  Huân chương Lao động các hạng: 09 tập thể và 16 cá nhân; Huân chương Độc lập: 03 (01 hộ gia đình, 01 tập thể và 01 cá nhân) ;  Cờ Thi đua của Chính phủ: 12 tập thể ; Bằng khen của Thủ tướng: 08 tập thể và 52 cá nhân ; Tập thể Lao động xuất sắc: 501 tập thể; Cờ thi đua của UBND tỉnh: 83 tập thể; Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh (công tác năm): 209 tập thể và 431 cá nhân; Danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh”: 244 cá nhân;…

[91] Đã thẩm định, góp ý 87 văn bản QPPL và cá biệt của Trung ương và địa phương; tự kiểm tra, kiểm tra theo thẩm quyền 44 văn bản; rà soát 365 văn bản QPPL.

[92] Đã tổ chức 64 hội nghị, lớp tập huấn, bồi dưỡng kiến thức pháp luật, tăng 88,2% so với cùng kỳ ; phát hành 35.244 tài liệu tuyên truyền pháp luật;

[93] Đã cấp phiếu lý lịch tư pháp cho  8.183 trường hợp, tăng 42,4% so với cùng kỳ; thực hiện trợ giúp pháp lý 217 vụ việc cho 217 đối tượng, trong đó có tham gia tố tụng 131 vụ việc, tăng 21,3% so với cùng kỳ;

[94] Đã thực hiện 5.254 việc làm công chứng, tổng số phí thu được 2.347 triệu đồng, tăng 44,4% so cùng kỳ; đã ký kết 120 Hợp đồng bán đấu giá tài sản, tổ chức 679 cuộc bán đấu giá, tổng giá trị tài sản bán được hơn 424,8 tỷ tăng 14,1% so cùng kỳ, chênh lệch so với giá khởi điểm là 96,5 tỷ, tăng 98,2%  so cùng kỳ;

[95] trong đó có 110 đoàn đông người; đã tập trung giải quyết 167/220 đơn khiếu nại, đạt 75,9%; 69/78 đơn tố cáo đạt 88%; 723/808 đơn kiến nghị, phản ánh đạt 89,5%.

[96] 14 đoàn cán bộ lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và các đoàn khách quốc tế đến làm việc tại địa phương, các sự kiện chính trị, văn hóa quan trọng trên địa bàn.

[97] Điều tra, khám phá 447 vụ phạm pháp luật hình sự, lập hồ sơ xử lý 768 đối tượng, đạt tỷ lệ 90,49%; phát hiện bắt giữ đối tượng người Lào vân chuyển trái phép 308,6kg ma túy đá trên địa bàn.

[98] Theo báo cáo của Ban An toàn giao thông tỉnh, đến ngày 15/10/2018, toàn tỉnh đã xảy ra 176 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 173 vụ, đường sắt 02 vụ, đường thủy 01 vụ), làm 79 người chết, 134 người bị thương, giảm 13 vụ, giảm 06 người chết, giảm 25 người bị thương so cùng kỳ năm 2017.

 

Nguồn: Báo cáo số 269/BC-UBND ngày 27/11/2018

[Trở về]