VĂN BẢN MỚI

Thông tin tra cứu
    Bản in     Gởi bài viết  
Tình hình thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội năm 2016 
(Quang Binh Portal) - Năm 2016 là năm đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI và Kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2016-2020. Ngay từ đầu năm, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch hành động và tổ chức Hội nghị triển khai thực hiện các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ và HĐND tỉnh về nhiệm vụ phát triển KT-XH và dự toán NSNN năm 2016.
 

Trong quá trình thực hiện kế hoạch, tỉnh Quảng Bình đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức, có thể nói là năm gặp khó khăn nhất, nằm ngoài dự báo của tỉnh đã ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến tình hình kinh tế - xã hội, an ninh chính trị địa phương. Đó là sự cố môi trường biển do Formosa gây ra đã làm cho sản xuất, kinh doanh, khai thác thủy hải sản bị đình trệ; đời sống, việc làm, thu nhập của nhân dân sống dựa vào biển và ngư dân các xã vùng biển trên địa bàn hết sức khó khăn, thậm chí bế tắc, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong nhân dân; du lịch tỉnh nhà rơi vào tình trạng điêu đứng, nhiều khách sạn, nhà hàng ngừng hoạt động, các ngành dịch vụ khác đi kèm bị ảnh hưởng rất nặng nề; trong tháng 10 lại xảy ra liên tiếp 2 trận lũ lụt lớn đạt đỉnh điểm lũ lụt 2007 đã gây thiệt hại rất lớn về người và tài sản. Trước những khó khăn trên, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tập trung chỉ đạo quyết liệt, triển khai đồng bộ các giải pháp khắc phục hậu quả, phục hồi sản xuất; động viên, hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh bị ảnh hưởng; đồng thời tăng cường các biện pháp ổn định tình hình an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh.

Cùng với sự quan tâm, giúp đỡ của Chính phủ, các Bộ ngành Trung ương; sự chung tay, góp sức của đồng bào cả nước, kiều bào ở nước ngoài; sự nỗ lực, quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị đã giúp cho người dân, doanh nghiệp giảm bớt khó khăn, từng bước khắc phục tổn thất, thiệt hại để tiếp tục sản xuất. Nhờ vậy, tình hình kinh tế - xã hội năm 2016 vẫn ổn định và có bước phát triển. Sản xuất nông nghiệp được mùa, sản lượng lương thực vượt kế hoạch đề ra; chăn nuôi phát triển ổn định; sản xuất công nghiệp duy trì tăng trưởng khá; thu ngân sách đạt dự toán đề ra; tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng khá so với cùng kỳ; kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội được chú trọng đầu tư, nhất là các công trình trọng điểm; đã xúc tiến, kêu gọi được nhiều dự án đầu tư lớn, tạo động lực phát triển cho tỉnh trong thời gian tới; đã tập trung chỉ đạo tháo gỡ khó khăn để tiếp tục triển khai một số dự án trên địa bàn tỉnh; đã hoàn thiện các thủ tục trình Bộ Xây dựng thẩm định, phê duyệt nâng cấp thị trấn Kiến Giang và Hoàn Lão lên đô thị loại IV; lĩnh vực văn hóa, xã hội, tài nguyên môi trường có nhiều chuyển biến tiến bộ; quốc phòng - an ninh tiếp tục được tăng cường, đã giữ vững ổn định tình hình trong điều kiện an ninh trật tự một số địa phương trong tỉnh diễn biến rất phức tạp; công tác cải cách hành chính có nhiều chuyển biến tích cực; công tác an sinh xã hội được chú trọng, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện.

Tuy vậy, sự cố môi trường biển do Formosa xả thải và 2 trận lũ lụt kép đã gây thiệt hại hơn 4.975 tỷ đồng, ảnh hưởng trực tiếp đến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, đặc biệt tác động trực tiếp đến các chỉ tiêu về giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản, giá trị sản xuất các ngành dịch vụ làm mức tăng trưởng thấp so cùng kỳ, kéo theo tổng sản phẩm trên địa bàn toàn tỉnh (GRDP) cả năm 2016 không đạt kế hoạch và thấp nhất trong nhiều năm qua; sản xuất và đời sống của nhân dân, doanh nghiệp bị ảnh hưởng nghiêm trọng, phải mất nhiều thời gian mới có thể khắc phục được.

I. KẾT QUẢ THỰC HIỆN MỘT SỐ CHỈ TIÊU CHỦ YẾU 2016

1. Các chỉ tiêu kinh tế:

- Tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 4,5% (kế hoạch cả năm tăng 8%, thực hiện cùng kỳ 6,5%);

- Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1,2% (kế hoạch cả năm tăng 4%, thực hiện cùng kỳ 3,5%);

- Giá trị sản xuất công nghiệp tăng 9,2% (kế hoạch cả năm 10%, thực hiện cùng kỳ 10%);

- Giá trị sản xuất các ngành dịch vụ tăng 4% (kế hoạch cả năm tăng 9,5%, thực hiện cùng kỳ 8,7%);

- Cơ cấu kinh tế: nông, lâm nghiệp và thủy sản: 22,9%, công nghiệp - xây dựng: 25,7%, dịch vụ: 51,4% (KH Nông, lâm, ngư nghiệp: 24%; Công nghiệp - xây dựng: 25,2%; dịch vụ: 50,8%);

- Thu ngân sách trên địa bàn đạt 3.067 tỷ đồng, tăng 2,2% so kế hoạch (kế hoạch 3.000 tỷ đồng);

- Tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt 10.824 tỷ đồng, tăng 6,8% so cùng kỳ (kế hoạch 12.000 tỷ đồng);

- GRDP bình quân đầu người đạt 28,72 triệu đồng (kế hoạch 35 triệu đồng);

- Có thêm 14 xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới, đạt 100% kế hoạch (kế hoạch 14 xã).

2. Các chỉ tiêu xã hội:

- Giải quyết việc làm cho 3,25 vạn lao động, đạt 98,5% kế hoạch (kế hoạch cả năm 3,3 vạn lao động; thực hiện cùng kỳ 3,23 vạn lao động);

- Tỷ lệ hộ nghèo giảm 2,0% so với năm 2015 (kế hoạch giảm 2%);

- Tốc độ tăng dân số 0,52%/năm (kế hoạch 1,05%);

- 99,58% hộ dân được sử dụng điện lưới quốc gia (kế hoạch 99,3%);

- 82,4% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế (kế hoạch 82,4%)

- Số giường bệnh bình quân trên 1 vạn dân đạt 21 giường (kế hoạch 21 giường)

- Trên 84,83% dân số tham gia bảo hiểm y tế (kế hoạch 77,8%);

- 45,9% xã, phường, thị trấn hoàn thành phổ cập trung học cơ sở (mức độ III) (kế hoạch 28,3%);

- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 62,1%; trong đó lao động qua đào tạo nghề đạt 38,6% (kế hoạch 62% và 37,5%);

3. Các chỉ tiêu về môi trường:

- Tỷ lệ dân cư thành thị được sử dụng nước sạch và hợp vệ sinh đạt 97,1% (kế hoạch 97%);

- Tỷ lệ hộ nông thôn được cung cấp nước sạch và hợp vệ sinh đạt 85% (kế hoạch 85%);

- Tỷ lệ che phủ rừng đạt 68,5% (kế hoạch 68,5%).

Trên cơ sở kết quả thực hiện năm 2016, có 14/21 chỉ tiêu chủ yếu đạt và vượt kế hoạch; 07 chỉ tiêu không đạt kế hoạch. Trong bối cảnh gặp nhiều khó khăn, thách thức, kết quả đạt được trên đây thể hiện nỗ lực rất lớn của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong toàn tỉnh.

II. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC TRÊN CÁC LĨNH VỰC

1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP)

Tổng sản phẩm trên địa bàn toàn tỉnh (GRDP) năm 2016 (theo giá so sánh 2010) ước tăng 4,5% so cùng kỳ. Đây là mức tăng trưởng thấp nhất trong nhiều năm qua. Nguyên nhân chính là do sự cố ô nhiễm môi trường biển và thiệt hại nặng nề do 2 đợt lũ lụt kép đã làm giảm tốc độ tăng trưởng của 02 khu vực: nông, lâm nghiệp, thủy sản và khu vực dịch vụ. Đây là vấn đề nghiêm trọng, nằm ngoài khả năng kiểm soát của tỉnh. Mặc dù các cấp, các ngành đã tập trung thực hiện quyết liệt nhiều giải pháp để hỗ trợ, khắc phục khó khăn, ổn định sản xuất cho người dân và các doanh nghiệp nhưng do thiệt hại quá lớn, đã ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh.

2. Công tác quy hoạch và quản lý đô thị

Công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch, quản lý đô thị có nhiều tiến bộ. Đã tập trung rà soát, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu phục vụ phát triển kinh tế, xã hội của tỉnh. Đã trình Bộ Xây dựng thẩm định, phê duyệt nâng cấp thị trấn Kiến Giang và Hoàn Lão lên đô thị loại IV. Tổ chức triển khai thực hiện Chương trình Phát triển đô thị tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2015-2020, định hướng đến năm 2030 làm cơ sở cho các địa phương xây dựng kế hoạch phát triển đô thị cho từng đô thị. Tuy vậy, việc xây dựng một số quy hoạch còn chậm, chất lượng chưa cao, việc công khai và quản lý thực hiện quy hoạch của một số ngành, địa phương chưa đồng bộ, chặt chẽ.

3. Sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản

Do ảnh hưởng của sự cố môi trường biển và 2 trận lũ lụt kép, sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đạt thấp nhất trong nhiều năm qua. Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản năm 2016 (theo giá so sánh năm 2010) đạt 7.440 tỷ đồng, tăng 1,2% so cùng kỳ. Kết quả từng lĩnh vực như sau:

3.1. Trồng trọt:

Năm 2016, trong điều kiện phải đối mặt với những khó khăn do thiên tai và sự cố môi trường biển gây ra nhưng với sự chỉ đạo triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp về giống, thời vụ, tưới tiêu, phòng trừ sâu bệnh, cùng với tinh thần vượt khó của bà con nông dân nên diện tích gieo trồng cây hằng năm tăng so với kế hoạch đề ra. Sản xuất nông nghiệp được mùa, sản lượng lương thực đạt 30,5 vạn tấn, tăng 2,2% so cùng kỳ, đạt 108,5% kế hoạch. Đã thực hiện chuyển ðổi hõn 2.206 ha ðất lúa kém hiệu quả sang cây trồng khác có hiệu quả cao, tãng 87% so cùng kỳ; hình thành một số vùng chuyển đổi tập trung có thu nhập cao hơn 1,5 - 8 lần so với trồng lúa. Tiếp tục tổ chức cho các doanh nghiệp thực hiện liên kết với HTX, tổ hợp tác và người nông dân sản xuất theo cánh đồng lớn 2.131ha, tăng 67,9% so cùng kỳ.

Cây công nghiệp dài ngày có xu hướng tăng. Sản lượng một số cây lâu năm: cao su khai thác 4.300 tấn, tăng 1,6%; hồ tiêu 667 tấn, tăng 3% so cùng kỳ.

3.2. Chăn nuôi:

Tiếp tục phát triển chăn nuôi theo hướng tập trung, đã hình thành các trang trại chăn nuôi có quy mô khá. Nhờ có thị trường tiêu thụ và giá cả ổn định nên tổng đàn gia súc được tăng, tỷ lệ bò lai sind cao. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng đạt 71.385 tấn, tăng 7,1% so cùng kỳ. Nhiều nhà đầu tư đã đăng ký thực hiện các dự án chăn nuôi trên địa bàn tỉnh.

Đã tập trung triển khai các biện pháp phòng ngừa, khống chế dịch bệnh trên gia súc, gia cầm; tăng cường kiểm soát vận chuyển, giết mổ nên cơ bản đã khống chế được dịch bệnh. Tuy nhiên, do 02 đợt mưa lũ lớn trong tháng 10, lĩnh vực chăn nuôi bị thiệt hại lớn, nhất là lợn, gia cầm. Đã tập trung chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương triển khai phun tiêu độc, khử trùng môi trường chăn nuôi nhằm ngăn chặn, hạn chế dịch bệnh phát sinh, lây lan sau lũ lụt.

3.3. Lâm nghiệp:

Đã tích cực chỉ đạo công tác chăm sóc, quản lý và bảo vệ rừng; triển khai trồng rừng và khai thác gỗ rừng trồng, gỗ rừng tự nhiên theo kế hoạch. Hiệu quả của kinh tế rừng ngày càng được khẳng định, đặc biệt là rừng trồng phục vụ nguyên liệu chế biến. Dự ước cả năm sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng 200.000 m3, tăng 18,9%, gỗ rừng tự nhiên đạt 5.500 m3, đạt 100% KH; sản lượng nhựa thông khai thác 2.400 tấn, bằng 97,6,2% so cùng kỳ.

Các địa phương đẩy mạnh triển khai công tác bảo vệ rừng, phòng chống cháy rừng theo phương châm “4 tại chỗ”; tăng cường kiểm tra, ngăn chặn, xử lý nghiêm các trường hợp khai thác, buôn bán, vận chuyển gỗ, động vật hoang dã trái phép, nhất là vùng ranh giới với Quảng Trị, Hà Tĩnh, các xã vùng đệm khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng.

3.4. Thủy sản:

Sau sự cố môi trường biển tháng 4/2016, hoạt động khai thác hải sản ven bờ và nuôi trồng thủy sản mặn lợ gần như dừng hẳn; đánh bắt xa bờ giảm đáng kể. Mặt khác, 2 trận lũ lụt lớn xảy ra trong tháng 10/2016, nhiều hồ nuôi bị ngập, sản lượng thủy sản bị trôi rất lớn. Dự ước sản lượng thủy sản năm 2016 đạt 61.800 tấn, bằng 89,6% so cùng kỳ. Trước tình hình khó khăn của bà con ngư dân, UBND tỉnh đã triển khai thực hiện kịp thời các chính sách hỗ trợ của Chính phủ, của Tỉnh. Đã tập trung rà soát, kê khai, xác định mức độ thiệt hại do ô nhiễm môi trường biển để báo cáo Trung ương. Đồng thời, tiến hành các thủ tục để chi trả tiền đền bù cho các đối tượng bị thiệt hại theo đúng quy định tại Quyết định 1880/QĐ-TTg ngày 29/9/2016 của Thủ tướng Chính phủ.

Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Quyết định 48/QĐ-TTg và Nghị định 67/NĐ-CP của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản, đặc biệt là cho vay đóng tàu công suất lớn đánh bắt bờ biển xa. Đến nay, toàn tỉnh có 4.035 tàu cá, tổng công suất trên 585.000 CV, tăng 16,8% cùng kỳ, trong đó 1.245 tàu cá tham gia vùng biển xa.

3.3. Chương trình xây dựng nông thôn mới:

Tập trung chỉ đạo các cấp, các ngành, địa phương tiếp tục nỗ lực thực hiện Chương trình MTQG về xây dựng nông thôn mới. Đến nay, số tiêu chí bình quân đạt 13 tiêu chí, tăng 0,8 tiêu chí/xã so với năm 2015, không còn xã đạt dưới 5 tiêu chí; các xã đã đạt nông thôn mới tiếp tục duy trì, nâng cao chất lượng của các tiêu chí đã đạt. Năm 2016, có thêm 14 xã hoàn thành 19/19 tiêu chí, nâng tổng số xã đạt nông thôn mới lên 42 xã, chiếm 30,9%.

3.6. Công tác ứng phó với môi trường biển do Formosa gây ra: Trước sự cố môi trường biển do Formosa gây ra, UBND tỉnh đã kịp thời thành lập các Tổ công tác và phân công các đồng chí lãnh đạo UBND tỉnh làm tổ trưởng phối hợp với các tổ chức, đoàn thể, các Ban đảng về trực tiếp chỉ đạo công tác vận động, tuyên truyền cho người dân ở các địa bàn nóng; Tổ chức nhiều cuộc họp, ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, lãnh đạo; đồng thời tổ chức các đoàn về cơ sở, chỉ đạo các đơn vị, địa phương bám sát dân, nắm chắc diễn biến tư tưởng nhân dân, động viên nhân dân đoàn kết vượt qua khó khăn; chỉ đạo các lực lượng chức năng, các địa phương tăng cường các biện pháp bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn, tăng cường bám sát cơ sở, đặc biệt là vùng ven biển, vùng giáo để nắm chắc tình hình. Chỉ đạo các cơ quan truyền thông, báo chí trên địa bàn tập trung tuyên truyền, vận động để người dân biết và hiểu về các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, không nghe theo các đối tượng xấu, không tụ tập, tuần hành đông người gây mất an ninh trật tự, cản trở giao thông trên địa bàn. Đồng thời, triển khai các biện pháp nghiệp vụ phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các đối tượng lợi dụng vấn đề cá biển chết kích động nhân dân, gây rối an ninh trật tự; kịp thời phát hiện những vấn đề mới nảy sinh để chủ động xử lý, không để đột xuất, bất ngờ; đảm bảo lực lượng, phương tiện, trang thiết bị cần thiết để ứng phó với tình huống xảy ra.

Trước tình hình đó, UBND tỉnh đã kịp thời chi hỗ trợ kinh phí thu mua hải sản số tiền 25,834 tỷ đồng; UBND tỉnh đã phân bổ 5.573,5 tấn gạo theo mức hỗ trợ được quy định tại Quyết định số 772 của Thủ tướng Chính phủ (khi chưa có quyết định hỗ trợ của Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh đã trích ngân sách cấp 500 tấn gạo hỗ trợ cho ngư dân các xã ven biển), các huyện cấp hỗ trợ thêm 241 tấn. Tổng số gạo đã hỗ trợ cho người dân 5.814,5 tấn.

Trong quá trình thực hiện, UBND tỉnh đã ban hành 29 văn bản chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc các đơn vị, địa phương thực hiện thống kê thiệt hại, bảo đảm an ninh - trật tự trên địa bàn. UBND tỉnh đã thành lập Đoàn công tác liên ngành, gồm Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Công Thương, Sở Tài chính và Sở Du lịch kiểm tra, giám sát công tác kê khai xác định thiệt hại do sự cố môi trường biển theo Quyết định số 1880/QĐ-TTg và các văn bản hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Tài chính và các Bộ, ngành Trung ương liên quan tại các huyện, thành phố, thị xã bị thiệt hại. Chỉ đạo UBND các huyện, thành phố, thị xã bị thiệt hại tổ chức thành lập Hội đồng thống kê từ thôn, xóm, tiểu khu, tập huấn cho cán bộ kê khai cơ sở, tổ chức cho nhân dân kê khai, niêm yết công khai đối tượng được hỗ trợ để nhân dân biết theo quy định. Ước tính tổng thiệt hại ô nhiễm môi trường biển 2.138 tỷ đồng.

Ngày 07/10/2016, Thủ tướng Chính phủ đã cấp tạm ứng kinh phí bồi thường thiệt hại cho Quảng Bình 1.100 tỷ đồng. Căn cứ số liệu thiệt hại do các địa phương báo cáo, UBND tỉnh ban hành Quyết định 3167/QĐ-UBND ngày 13/10/2016 cấp tạm ứng cho các huyện, thành phố, thị xã: Lệ Thủy 104.600 triệu đồng; Quảng Ninh 116.550 triệu đồng; Đồng Hới 141.650 triệu đồng; Bố Trạch 299.320 triệu đồng; Ba Đồn 207.630 triệu đồng, Quảng Trạch 230.250 triệu đồng.

Trong thời gian qua các địa phương đã tập trung tổ chức thực hiện khẩn trương việc kê khai, thẩm định, niêm yết công khai để sớm chi tiền bồi thường cho người dân. Đến nay, các địa phương cơ bản hoàn thành việc kê khai, niêm yết, thẩm định cấp xã, cấp huyện đang tiến hành thẩm định, trong đó đã có 24 xã được UBND cấp huyện phê duyệt đối tượng, kinh phí bồi thường với tổng số tiền 471 tỷ đồng/2.138 tỷ đồng, đạt  22%, trong đó đã chi trả 182,7 tỷ đồng. Dự kiến hoàn thành việc chi trả đợt đầu trong tháng 11 năm 2016.

3.7. Công tác phòng, chống lụt bão, tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ:

Trong tháng 10/2016, trên địa bàn toàn tỉnh đã có mưa lớn dẫn đến lũ lụt, gây thiệt hại nghiêm trọng đến tính mạng, tài sản của nhà nước và nhân dân. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Ban chỉ đạo TW về PCTT và Ủy ban Quốc gia TKCN, UBND tỉnh, Ban Chỉ huy Phòng chống thiên tai và Tìm kiếm cứu nạn tỉnh đã có nhiều công văn chỉ đạo các cấp, các ngành, các huyện, thành phố, thị xã triển khai chỉ đạo thực hiện phòng, chống, ứng phó với mưa lũ theo phương châm “4 tại chỗ”.

Trước, trong và sau lũ lụt, Tỉnh ủy, HĐND tỉnh, UBND tỉnh đã chỉ đạo và cử các đoàn công tác đến các địa phương để kiểm tra tình hình, chỉ đạo ứng phó, di dời dân ra khỏi vùng nguy hiểm, cứu nạn, cứu hộ; tổ chức cứu trợ lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm cho nhân dân những khu dân cư bị ngập sâu, chia cắt; tổ chức cứu trợ lương thực, nhu yếu phẩm cho nhân dân, nhất là những người dân chưa kịp sơ tán tại các khu vực bị ngập sâu; không để người dân bị đói, khát; tổ chức thăm hỏi, động viên các gia đình bị thiệt hại, hỗ trợ cứu chữa người bị thương, mai táng chu đáo cho người bị thiệt mạng; bố trí chỗ tạm cho các hộ bị mất nhà cửa; đảm bảo nước uống, tăng cường dọn dẹp vệ sinh, tiêu độc khử trùng, phòng chống các loại dịch bệnh; tập trung tiếp nhận, phân phối tiền và hàng cứu trợ đến người dân nhanh chóng, kịp thời, đúng đối tượng... Đồng thời tổ chức họp để chỉ đạo, giao trách nhiệm cho các sở, ngành, đơn vị, địa phương kịp thời triển khai thác hiện các biện pháp khắc phục hậu quả mưa lũ. Do đó, tình hình sản xuất và đời sống, học tập của bà con nhân dân và các em học sinh tại những nơi bị ảnh hưởng lũ lụt sớm được ổn định trở lại.

UBND tỉnh đã phân bổ 10 tỷ đồng cho 8 huyện, thành phố, thị xã và Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Giao thông Vận tải để khắc phục kịp thời hậu quả do lũ, lụt gây ra; UBND tỉnh đã có Công văn số 1728/UBND-KTN ngày 17/10/2016 gửi Thủ tướng Chính phủ đề nghị hỗ trợ tỉnh Quảng Bình khắc phục hậu quả lũ lụt. Đến nay, Chính phủ vẫn chưa có quyết định hỗ trợ.

Tuy vậy, sự cố môi trường biển và 2 trận lũ lụt kép đã làm cho giá trị sản xuất và sản lượng thủy sản sụt giảm mạnh so với cùng kỳ; thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, chuyển đổi cơ cấu cây trồng chậm, chất lượng đàn gia súc, gia cầm chưa cao; nợ đọng XDCB trong xây dựng nông thôn mới còn cao, công tác quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm nông, lâm, thủy sản ở một số địa phương chưa quan tâm đúng mức.

4. Công nghiệp

Sản xuất công nghiệp đã được tập trung chỉ đạo thực hiện ngay từ đầu năm. Tích cực triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp nhằm phát huy hết công suất các nhà máy nên sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh năm 2016 duy trì tốc độ tăng trưởng khá so với cùng kỳ. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) năm 2016 tăng 8,4%. Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh 2010) năm 2016 đạt 9.791 tỷ đồng, tăng 9,2% so cùng kỳ (kế hoạch tăng 10%). Một số ngành có giá trị sản xuất chiếm tỷ trọng lớn như: sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác (xi măng, cliker); chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ; sản xuất may mặc; sản xuất đồ uống đạt tốc độ tăng trưởng khá. Trong năm 2016, có thêm một số cơ sở sản xuất công nghiệp đi vào hoạt động như: Nhà máy may Quảng Bình tại Khu công nghiệp Cam Liên, Lệ Thủy; giai đoạn 2 dự án Nhà máy may S&D Quán Hàu tại Khu công nghiệp Tây Bắc Quán Hàu... Trung tâm Nhiệt điện Quảng Trạch đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định chuyển giao cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam làm chủ đầu tư dự án; chuẩn bị đám phán triển khai thực hiện Dự án xây dựng kho ngoại quan và đường ống dẫn dầu sang Lào.

Lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn phát triển khá, nhiều cơ sở đã đầu tư mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới công nghệ thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm. Tập trung vào các ngành, nghề: sản xuất vật liệu xây dựng, đồ gỗ, mây tre đan, nón lá, nước mắm, cơ khí nhỏ... góp phần tạo việc làm ổn định, tăng thu nhập cho lao động nông thôn.

Tuy nhiên, sản xuất công nghiệp còn gặp nhiều khó khăn, một số nhà máy xi măng dừng sản xuất, một số dự án công nghiệp dự kiến có mức đóng góp lớn giãn tiến độ, kéo dài thời gian đầu tư; một số sản phẩm giảm so cùng kỳ như: quặng titan, mực đông lạnh, gạch xây dựng; tiểu thủ công nghiệp mặc dù có tăng trưởng nhưng quy mô còn nhỏ, năng suất, chất lượng sản phẩm và sức cạnh tranh còn thấp.

5. Các ngành dịch vụ

5.1. Hoạt động thương mại nội địa:

Mạng lưới dịch vụ thương mại tiếp tục phát triển, các mặt hàng thiết yếu được cung ứng đầy đủ, kịp thời cho nhu cầu sản xuất, đời sống của nhân dân. Hệ thống phân phối hàng hóa ngày càng mở rộng, đa dạng. Tổng mức bán lẻ hàng hóa 2016 đạt 16.771 tỷ đồng, tăng 8,2% so với cùng kỳ.

Công tác quản lý, kiểm tra, kiểm soát thị trường, giá cả được tăng cường, giá cả ổn định, cân đối cung cầu các mặt hàng thiết yếu được đảm bảo. Đẩy mạnh thực hiện cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; khuyến khích sử dụng các sản phẩm sản xuất trong tỉnh. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân tăng 5% so với cùng kỳ năm 2015.

5.2. Xuất, nhập khẩu:

Năm 2016, thị trường xuất khẩu gặp khó khăn, giá và sản lượng các mặt hàng xuất khẩu chủ lực như: cao su, dăm gỗ, gỗ các loại, thủy sản giảm mạnh. Kim ngạch xuất khẩu năm 2016 đạt 79,4 triệu USD, bằng 75,9% so cùng kỳ, đạt 52,9% kế hoạch. Kim ngạch nhập khẩu đạt 118,7 triệu USD, tăng 2,9% so cùng kỳ, đạt 98,9% kế hoạch.

5.3. Hoạt động du lịch:

Đã tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện Chương trình Phát triển du lịch giai đoạn 2016-2020. Các hoạt động xúc tiến quảng bá du lịch được đẩy mạnh. Nhiều sản phẩm du lịch, tuyến, điểm du lịch mới được đưa vào khai thác phục vụ du khách. Sự cố môi trường biển và 2 trận lũ lụt kép đã làm cho ngành du lịch của tỉnh bị ảnh hưởng nghiêm trọng, lượng khách đến Quảng Bình giảm mạnh, hệ số lưu trú đạt thấp, nhiều dự án khách sạn 3 sao trở lên, nhiều nhà hàng đang triển khai phải dừng thi công; nhiều doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch phải đóng cửa, ngừng hoạt động. UBND tỉnh đã kịp thời làm việc với các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, lữ hành, khách sạn, nhà hàng để chỉ đạo triển khai đồng bộ các giải pháp giữ khách, thu hút khách. Dự ước năm 2016, số lượt khách du lịch đến với Quảng Bình đạt 1,99 triệu lượt, giảm 29,4% so cùng kỳ, trong đó khách quốc tế ước đạt: 37.162 lượt, giảm 13,2%; doanh thu lưu trú, ăn uống, du lịch lữ hành đạt 1.685 tỷ đồng, giảm 12,9% so cùng kỳ.

5.4. Các loại hình dịch vụ khác:

Hoạt động vận tải đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại của nhân dân, đặc biệt là vận tải biển, cảng biển và hàng không. Doanh thu vận tải ước đạt 2.701 tỷ đồng, tăng 7% so cùng kỳ. Năm 2016, đã khai trương 2 tuyến xe bus mới. Các loại hình dịch vụ khác như: bưu chính, viễn thông, tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, khám chữa bệnh, tư vấn pháp luật... tiếp tục phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nhân dân.

6. Xây dựng cơ bản

Năm 2016, công tác quản lý và sử dụng vốn đầu tư công được tăng cường quản lý chặt chẽ, hiệu quả hơn. Các nguồn vốn đầu tư công được giao sớm ngay từ đầu năm; triển khai thực hiện tốt các quy định thẩm định chủ trương đầu tư, thẩm định dự án, kế hoạch đấu thầu theo quy định mới; tập trung đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công năm 2016 theo đúng chỉ đạo tại Nghị quyết số 60/NQ-CP ngày 08/7/2016 của Chính phủ. Nhìn chung, việc thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công đảm bảo theo tiến độ. Đã tranh thủ các nguồn vốn cho các công trình trọng điểm như: cầu Nhật Lệ 2, Trụ sở Tỉnh ủy, Trung tâm Văn hóa tỉnh; cơ sở hạ tầng trung tâm huyện lỵ huyện Quảng Trạch... Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng có nhiều tiến bộ, giám sát đầu tư được tăng cường, đã tổ chức nhiều đợt giám sát đối với các chương trình dự án. Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội năm 2016 ước đạt 10.824 tỷ đồng, tăng 6,8% so cùng kỳ. Công tác giải ngân, thanh, quyết toán vốn đầu tư có nhiều tiến bộ, tỷ lệ giải ngân đến cuối tháng 10/2016 nguồn vốn địa phương quản lý đạt 70% dự toán.

Tuy vậy, một số tư vấn năng lực kém dẫn đến dự án phải điều chỉnh nhiều lần; công tác quyết toán các dự án hoàn thành còn chậm; công tác giám sát, đánh giá đầu tư đã được thực hiện nhưng chưa thường xuyên, chưa chấp hành chế độ báo cáo theo đúng quy định; nợ đọng XDCB còn cao.

7. Tài chính - Tín dụng

7.1. Tài chính:

Trong điều kiện kinh tế khó khăn, UBND tỉnh đã chỉ đạo triển khai đồng bộ các biện pháp tăng thu, tập trung thu hồi nợ đọng thuế, phát triển quỹ đất để đảm bảo nguồn thu nên thu ngân sách vượt kế hoạch đề ra, ước đạt 3.067 tỷ đồng, bằng 102,2% dự toán địa phương, tăng 6,6% so cùng kỳ.

Tổng chi NSNN 8.431 tỷ đồng, đạt 121% dự toán địa phương giao, tăng 6,5% so cùng kỳ. Chi ngân sách được kiểm soát chặt chẽ, triển khai thực hiện tiết kiệm chi theo đúng quy định của Chính phủ và dự toán đã được HĐND tỉnh thông qua. Công tác quản lý, điều hành thu, chi NSNN đã đáp ứng kịp thời các nhiệm vụ phát triển KT-XH, tăng cường QP-AN và những nhiệm vụ quan trọng, đột xuất, góp phần tiết kiệm, phòng, chống lãng phí, tham nhũng.

7.2. Tín dụng:

Hệ thống ngân hàng, tổ chức tín dụng thực hiện nghiêm túc các chính sách tiền tệ và các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp. Tổng số vốn huy động đến cuối năm 2016 ước đạt 27.050 tỷ đồng, tăng 15,8% so với đầu năm. Tổng dư nợ cho vay ước đạt 33.700 tỷ đồng, tăng 19,3% so với đầu năm.

Tuy vậy, tình hình nợ đọng thuế còn cao, một số khoản thu đạt thấp so với kế hoạch, một số doanh nghiệp thua lỗ nên tự bỏ kinh doanh, không khai báo và không nộp thuế, nợ thuế. Doanh nghiệp vẫn còn khó khăn trong tiếp cận vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh.

8. Hoạt động đối ngoại và xúc tiến đầu tư

8.1. Công tác ngoại vụ:

Chú trọng tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với tỉnh Khăm Muộn, Savanakhet, các tỉnh lân cận của nước bạn Lào và vùng Đông Bắc Thái Lan, mở rộng quan hệ hợp tác với Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc... Việc quản lý đoàn vào, đoàn ra đúng quy định. Thực hiện nghiêm chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong việc đi công tác nước ngoài. Tổ chức thành công cho Đoàn Đại sứ các nước thực hiện Chương trình “Chinh phục Sơn Đoòng - hang động lớn nhất thế giới”, để lại dấu ấn tốt đẹp đối với đại sứ các nước.

8.2. Công tác xúc tiến đầu tư:

Hoạt động xúc tiến đầu tư năm 2016 đạt nhiều kết quả tích cực. Đã có nhiều nhà đầu tư nước ngoài đến tìm hiểu cơ hội đầu tư tại tỉnh. Đã tổ chức, tham gia nhiều hoạt động xúc tiến, kêu gọi đầu tư tại Thái Lan, Nhật Bản và các thành phố lớn trong cả nước.

Tập trung chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đã được cấp Giấy chứng nhận đầu tư; ký kết thoả thuận hợp tác đầu tư. UBND tỉnh đã phân công các sở, ngành đôn đốc các dự án đầu tư trọng điểm của tỉnh triển khai thực hiện theo đúng tiến độ. Tuy nhiên, một số dự án đã được cấp giấy chứng nhận đầu tư, cho thuê đất nhưng chưa triển khai hoặc triển khai chậm tiến độ. Đã rà soát 27 dự án đầu tư chậm tiến độ, UBND tỉnh đã quyết định thu hồi đất 8 dự án; đồng ý chủ trương gia hạn tiến độ cho 19 dự án.

8.3. Về các dự án của nhà đầu tư trong nước:

Trong 10 tháng đầu năm 2016, đã quyết định chủ trương đầu tư 107 dự án, với tổng vốn đăng ký 12.995 tỷ đồng, trong đó có các dự án lớn như: Dự án khu nghỉ dưỡng cao cấp Hải Ninh của Công ty CP xây dựng Faros: 3.600 tỷ đồng; dự án đầu tư Quần thể resort, biệt thự nghỉ dưỡng và giải trí cao cấp FLC Quảng Bình: 4.800 tỷ đồng; Dự án nuôi bò thịt của Công ty Hòa Phát: 996 tỷ đồng...

Đối với các dự án trọng điểm của tỉnh: UBND tỉnh đã phân công cụ thể các đồng chí lãnh đạo UBND tỉnh trực tiếp chỉ đạo đối với từng dự án, đồng thời phân công các cơ quan chuyên môn theo dõi tình hình thực hiện dự án để kịp thời nắm bắt, giải quyết những vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện.

8.4. Các dự án ODA:

Đã tích cực làm việc với Trung ương, các tổ chức quốc tế để tranh thủ nguồn vốn cho các dự án chuyển tiếp. Đối với các dự án khởi công mới, đang tiến hành các thủ tục thẩm định phương án vay và trả nợ vay tại Bộ Tài chính. Ước giải ngân của các dự án tính đến 31/12/2016 đạt 456,6 tỷ đồng, trong đó ODA: 355,5 tỷ đồng đạt 100% tổng vốn ODA được giao; đối ứng: 101,1 tỷ đồng đạt 91,41% kế hoạch cả năm.

8.5. Các dự án FDI:

Năm 2016, tỉnh Quảng Bình đã cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 03 dự án FDI với số vốn đăng ký 21,43 triệu USD. Tập đoàn Dohwa (Hàn Quốc) đang xúc tiến các thủ tục đầu tư 02 Nhà máy điện pin mặt trời và điện sinh khối. Nhìn chung, các dự án FDI trên địa bàn triển khai khá chậm so với tiến độ, tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư đạt thấp. Đến nay, các dự án FDI thực hiện giải ngân được trên 69,6 triệu USD, đạt khoảng 50,4% so với tổng nguồn vốn đăng ký đầu tư, riêng trong năm 2016, giải ngân được 5,7 triệu USD.

8.6. Các dự án NGO:

Công tác vận động thu hút và tiếp nhận nguồn viện trợ NGO được triển khai tích cực. Năm 2016, đã tiếp nhận được 17 dự án NGO, với tổng số tiền 835 ngàn USD, góp phần giúp người dân xóa đói, giảm nghèo, cải thiện môi trường sinh thái, góp phần phát triển kinh tế xã hội địa phương.

Tuy vậy, một số dự án tiến độ chậm so với dự kiến, một số dự án ODA gặp khó khăn trong giải ngân vốn nước ngoài theo quy định mới của Chính phủ. Dự án FDI đang gặp khó khăn trong việc huy động, thu xếp nguồn vốn và thị trường đầu ra. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) còn ở thứ hạng thấp.

9. Phát triển doanh nghiệp và các thành phần kinh tế

9.1. Công tác đổi mới, sắp xếp DNNN:

Công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước được tập trung thực hiện theo kế hoạch. Năm 2016, triển khai thực hiện Đề án sắp xếp, chuyển đổi 4 Công ty nông, lâm trường. Phấn đấu chuyển sang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần từ ngày 1/1/2017. Các doanh nghiệp nhà nước và các công ty cổ phần nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ đang điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi điều lệ tổ chức, hoạt động theo Luật Doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng dẫn.

9.2. Công tác phát triển kinh tế tập thể:

Nhiều mô hình của các tổ hợp tác, hợp tác xã, kinh tế trang trại, liên kết hộ trong sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có hiệu quả, đã góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn. Đến nay, đã thực hiện chuyển đổi, tổ chức lại 147/214 Hợp tác xã theo Luật Hợp tác xã năm 2012 (đạt 69%). Sau chuyển đổi, các đơn vị tiếp tục củng cố tổ chức, ổn định và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần phát triển kinh tế, ổn định an sinh xã hội địa phương, đảm bảo các mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ đã đề ra.

9.3. Công tác đăng ký kinh doanh:

Đã thực hiện việc đăng ký kinh doanh trực tuyến (mức độ 4); triển khai rà soát, đồng bộ hóa cơ sở dữ liệu về doanh nghiệp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế. Năm 2016, thành lập mới 554 doanh nghiệp với số vốn đăng ký 3.000 tỷ đồng, nâng tổng số doanh nghiệp đăng ký lên 4.766 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký 25.800 tỷ đồng. Công tác hậu kiểm được chú trọng, đã tiến hành 15 đợt hậu kiểm, thu hồi 90 giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

9.4. Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh:

Năm 2016, UBND tỉnh đã triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh. Hàng quý, UBND tỉnh đã tổ chức gặp mặt doanh nghiệp, nhà đầu tư và trực tiếp làm việc với các doanh nghiệp theo từng chuyên đề để cùng với doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, tạo điều kiện thuận lợi trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Tỉnh đã tham gia ký kết với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) về tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi cho Doanh nghiệp.

Tuy vậy, quy mô doanh nghiệp của tỉnh còn nhỏ, năng lực quản trị, tài chính và sức cạnh tranh thấp (bình quân vốn đăng ký 5 tỷ đồng/DN), hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh chưa cao. Do ảnh hưởng của sự cố môi trường biển nên các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ du lịch, khách sạn, nhà hàng gặp rất nhiều khó khăn.

10. Tài nguyên và môi trường

Công tác quản lý tài nguyên, đất đai được tăng cường. Việc giao đất, cho thuê đất, kiểm tra, xử lý thu hồi đất được triển khai đúng quy định. Công tác phát triển quỹ đất tiếp tục được đẩy mạnh nhằm tạo nguồn lực cho đầu tư phát triển. Tập trung chỉ đạo các huyện, thị xã, thành phố triển khai thực hiện thống kê đất đai năm 2015. Đẩy mạnh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chỉnh lý biến động đất đai cho các tổ chức và cá nhân theo quy định.

Công tác quản lý khoáng sản tiếp tục được chú trọng, hoạt động kiểm tra, thanh tra, khắc phục tình trạng khai thác khoáng sản trái phép được tăng cường. Công tác bảo vệ môi trường được quan tâm chỉ đạo thực hiện. Tiếp tục thực hiện lộ trình xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định 64/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Đã tập trung lực lượng thường xuyên bám sát địa bàn, theo dõi tình hình, kịp thời hướng dẫn các địa phương thu gom, xử lý hải sản chết do sự cố môi trường biển gây ra; phối hợp với các cơ quan, ban, ngành liên quan kiểm tra theo dõi tình hình để kịp thời báo cáo Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường; thực hiện quan trắc chất lượng nước biển ven bờ thông báo kết quả kịp thời, liên tục trên báo Quảng Bình, Đài Phát thanh và truyền hình Quảng Bình theo chỉ đạo của Bộ Tài nguyên và Môi trường và UBND tỉnh.

Tuy vậy, công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng một số công trình, dự án vẫn còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc. Công tác bảo vệ môi trường ở một số địa phương chưa được toàn diện và thường xuyên. Tình trạng khai thác, mua bán, vận chuyển cát sạn trái phép vẫn còn diễn ra.

11. Giáo dục đào tạo

Tiếp tục quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các trường; mạng lưới trường, lớp các cấp học và trình độ đào tạo cơ bản ổn định, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; củng cố vững chắc kết quả phổ cập giáo dục tiểu học - chống mù chữ, phổ cập tiểu học - đúng độ tuổi, đẩy mạnh phổ cập giáo dục THCS, phổ cập bậc trung học, có 301 trường được công nhận đạt chuẩn Quốc gia, đạt tỷ lệ 51,01%. Số lượng học sinh đạt giải trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia cao và đồng đều ở các cấp học. Tại kỳ thi Olympic Vật lý Quốc tế 2016 tại Thụy Sỹ, em Nguyễn Thế Quỳnh, học sinh lớp 11 chuyên Lý, Trường THPT Chuyên Võ Nguyên Giáp đã xuất sắc đạt Huy chương Vàng, đây là huy chương vàng đầu tiên của học sinh Quảng Bình trên đấu trường quốc tế.

Tích cực chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT Quốc gia và tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng năm 2016 an toàn, đúng quy chế. Đào tạo đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp tiếp tục đa dạng hóa các ngành nghề, các loại hình đào tạo phù hợp với nhu cầu thực tế địa phương; công tác quản lý chất lượng được chú trọng và chặt chẽ hơn.

Tuy vậy, cơ sở vật chất phục vụ cho đổi mới giảng dạy chưa đáp ứng yêu cầu; huy động các nguồn lực của xã hội đầu tư cho giáo dục còn nhiều hạn chế. Công tác tuyển sinh tại các trường trung học chuyên nghiệp, các trung tâm hướng nghiệp, dạy nghề gặp nhiều khó khăn, quy mô đào tạo thu hẹp, nhiều ngành không tuyển được sinh viên.

12. Khoa học và công nghệ

Công tác quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ được tăng cường. Chú trọng hoạt động ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học, công nghệ để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ. Triển khai công tác chuẩn bị Hội thi sáng tạo kỹ thuật lần thứ VII (2016-2017). Hoạt động quản lý các đề tài, dự án sâu sát, chặt chẽ và có nhiều đổi mới. Công tác kiểm tra, thông tin, phổ biến, chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ được chú trọng. Việc quản lý tiêu chuẩn đo lường chất lượng được quản lý chặt chẽ, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về chất lượng sản phẩm hàng hóa và đo lường; đồng thời, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các cơ sở sản xuất kinh doanh và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Công tác xây dựng và phát triển tiềm lực khoa học công nghệ được đẩy mạnh.

Tuy vậy, năng lực khoa học công nghệ còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu phát triển; việc triển khai nhân rộng các kết quả nghiên cứu KH&CN vào sản xuất và đời sống hiệu quả chưa cao; nguồn lực xã hội đầu tư cho hoạt động KH&CN còn khiêm tốn. công tác xã hội hóa các hoạt động khoa học và công nghệ còn nhiều khó khăn.

13. Y tế và chăm sóc sức khoẻ nhân dân

Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm, cơ sở vật chất, chất lượng khám chữa bệnh được nâng lên. Công tác khám, chữa bệnh cho người nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi được duy trì và thực hiện tốt. Đã hoàn thành, đưa vào sử dụng tòa nhà kỹ thuật nghiệp vụ cao Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới, đáp ứng tốt hơn nhu cầu bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Toàn tỉnh có 159/159 xã, phường, thị trấn có trạm y tế và có bác sỹ làm việc. Ước tính đến cuối năm 2016, toàn tỉnh đã có 131/159 trạm y tế xã, phường, thị trấn đạt tiêu chí quốc gia về y tế (đạt tỷ lệ 82,4%). Công tác xã hội hóa về y tế phát triển khá, góp phần phục vụ chẩn đoán và nâng cao chất lượng điều trị.

Công tác phòng, chống dịch bệnh được tăng cường, đã chủ động triển khai các biện pháp phòng, chống dịch chân tay miệng, sốt xuất huyết, dịch sởi và các bệnh nguy hiểm. Xây dựng kế hoạch phòng chống dịch bệnh Zika, giám sát các ca bệnh nghi ngờ đầu tiên để sớm phát hiện dịch bệnh và có biện pháp xử lý kịp thời. Hướng dẫn và triển khai tốt công tác vệ sinh an toàn thực phẩm, tiến hành thực hiện nhiều đợt kiểm tra, thanh tra toàn diện về vệ sinh an toàn thực phẩm tại các địa phương. Đã phối hợp với các ngành tích cực triển khai công tác: tiêu độc khử trùng, vệ sinh môi trường, xử lý nước sinh hoạt, bảo an toàn vệ sinh thực phẩm sau lũ lụt.

Tuy vậy, việc đầu tư nâng cấp trang thiết bị cho các trạm y tế xã theo lộ trình xây dựng Bộ tiêu chí Quốc gia về y tế giai đoạn 2011-2020 vẫn còn chậm, việc tăng giường bệnh để giảm tải cho các bệnh viện tuyến trên còn gặp nhiều khó khăn. Đội ngũ cán bộ y tế còn thiếu bác sĩ, dược sĩ, cán bộ có trình độ đại học và trên đại học, cán bộ có trình độ chuyên môn sâu thuộc các chuyên ngành. Chất lượng khám chữa bệnh vẫn ở một số cơ sở y tế chưa được nâng cao, còn để xảy ra những vụ việc ảnh hưởng đến sức khỏe, tính mạng của người bệnh do lỗi chủ quan của cán bộ y tế.

14. Văn hoá, thể thao

Tổ chức các hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao rộng khắp, tập trung vào phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương, kỷ niệm các ngày lễ lớn và các sự kiện quan trọng của đất nước. Phối hợp với Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) và Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam tổ chức chuỗi các hoạt động: Đại lễ khánh hạ chùa Hoằng Phúc, đón nhận Bằng di tích lịch sử cấp Quốc gia và cung nghinh Xá lợi Đức Phật Tổ, Lễ hội chùa Hoằng Phúc lần thứ nhất năm 2016 và cung nghinh tượng Phật Ngọc hòa bình thế giới. Tổ chức giới thiệu, quảng bá nét độc đáo "Hò khoan Lệ Thủy", lấy ý kiến của các chuyên gia, nhà nghiên cứu để lập hồ sơ di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và đề nghị UNESSCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Tạo mọi điều kiện thuận lợi cho đoàn làm phim Kong: Skull Island của Hollywood thực hiện các cảnh quay tại tỉnh, để lại ấn tượng tốt đẹp cho đoàn làm phim, tạo hiệu ứng tốt trong việc giới thiệu, quảng bá hình ảnh về mảnh đất, con người Quảng Bình đối với bạn bè trong nước và quốc tế.

Phong trào ''Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” tiếp tục được duy trì, phát triển. Hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp đáp ứng ngày càng tốt hơn nhiệm vụ chính trị của địa phương . Phong trào thể dục, thể thao quần chúng phát triển mạnh, thể thao thành tích cao ngày càng được chú trọng và đã thu được nhiều kết quả đáng khích lệ .

Tuy vậy, việc quản lý kiểm tra chất lượng hoạt động kinh doanh dịch vụ văn hóa chưa thường xuyên, hoạt động xã hội hoá lĩnh vực văn hoá, thể dục thể thao còn hạn chế.

15. Thông tin và truyền thông

Tiếp tục được đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hoạt động báo chí, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt phục vụ chỉ đạo, điều hành của các cấp, đặc biệt trong thời gian diễn ra Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng và tuyên truyền bầu cử đại biểu quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021. Mạng lưới bưu chính, viễn thông được đầu tư ngày càng đồng bộ, hiện đại, bảo đảm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh và phòng, chống bão lụt. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan hành chính, triển khai hiệu quả các hệ thống ứng dụng dùng chung, hệ thống phần mềm một cửa điện tử liên thông phục vụ kịp thời công tác quản lý, điều hành của các cơ quan, đơn vị.

UBND tỉnh phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức lễ tưởng niệm, tri ân các cán bộ, chiến sĩ hy sinh tại hang Lèn Hà năm 1972 truyền hình trực tiếp trên kênh VTV1, Đài Truyền hình Việt Nam.

Tuy vậy, việc quản lý thông tin trên mạng còn gặp nhiều khó khăn; công tác phát triển hạ tầng viễn thông đến vùng sâu vùng xa chưa kịp thời, hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước còn thấp.

16. Lao động, Thương binh và Xã hội

Đã tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện Chương trình Giảm nghèo bền vững và giải quyết việc làm giai đoạn 2016-2020. Công bố kết quả tổng điều tra hộ nghèo, hộ cận nghèo theo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 và giao chỉ tiêu kế hoạch giảm nghèo năm 2016 cho các huyện, thị xă, thành phố. Năm 2016, tỷ lệ hộ nghèo giảm 2%, đưa tỷ lệ hộ nghèo đến cuối năm 2016 đạt dưới 12,42% (theo chuẩn mới).

Đã giải quyết việc làm cho 32.510 lao động, đạt 98,5% KH, chú trọng đào tạo nghề, đưa 2.430 lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài, đạt 101,25% kế hoạch. Triển khai tốt các chương trình tín dụng, ưu đãi đối với hộ nghèo và học sinh sinh viên. Công tác an sinh xã hội, bảo trợ xã hội tiếp tục được quan tâm. Đã theo dõi, nắm sát tình hình đời sống nhân dân, nhất là đời sống đồng bào dân tộc, vùng sâu, các xã ven biển ảnh hưởng của sự cố môi trường biển, để có biện pháp hỗ trợ kịp thời. Đã thực hiện phân bổ 14.350 tấn gạo  để giúp nhân dân ổn định cuộc sống. Tiếp tục triển khai có kết quả các hoạt động bảo vệ và chăm sóc trẻ em theo kế hoạch. Giải quyết kịp thời các chế độ chính sách, các hoạt động đền ơn đáp nghĩa, chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sỹ, người có công với cách mạng đạt kết quả tốt.

Tuy vậy, công tác giải quyết chế độ chính sách còn vướng mắc, chưa kịp thời; lao động chưa có việc làm, chưa qua đào tạo nghề còn lớn, số lao động nông thôn được hỗ trợ đào tạo nghề còn thấp so nhu cầu, Chất lượng nguồn lao động của tỉnh như: trình độ tay nghề, ngoại ngữ chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, nhất là thị trường lao động ngoài nước.

17. Thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo

Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ sản xuất, đời sống của đồng bào dân tộc thông qua việc triển khai các chương trình, dự án. Từng bước cải thiện và nâng cao chất lượng các hoạt động y tế, giáo dục, văn hoá thông tin phục vụ đồng bào dân tộc. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, phối hợp nắm tình hình thực hiện các chính sách vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn nhằm thực hiện có hiệu quả các chương trình, dự án trên địa bàn.

Công tác quản lý nhà nước về tôn giáo có bước chuyển biến nhất định. Tổ chức sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo cơ bản đúng quy định. Phần lớn các chức sắc, chức việc, bà con giáo dân, tín đồ phật tử tuân thủ quy định của pháp luật, tích cực tham gia các phong trào thi đua yêu nước, “sống tốt đời đẹp đạo”, góp phần phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn an ninh trật tự ở các địa phương. Việc giải quyết các nhu cầu sinh hoạt tôn giáo  được quan tâm giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, tạo sự đồng thuận giữa chính quyền và giáo hội.

Tuy vậy, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo, nguy cơ tái nghèo vùng đồng bào dân tộc còn cao, ở một số vùng người dân vẫn còn nặng tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của nhà nước, hoạt động tôn giáo một số nơi vẫn còn vi phạm pháp luật, nhất là trong việc xây dựng các cơ sở thờ tự và công trình tôn giáo. Do ảnh hưởng của sự cố môi trường biển, cùng với sự kích động của phần tử xấu, một bộ phận giáo dân đã gây mất ổn định trật tự tại một số địa phương.

18. Công tác tổ chức bộ máy, xây dựng chính quyền

18.1. Tổ chức bộ máy:

Công tác xây dựng chính quyền được quan tâm, đã tập trung chỉ đạo xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, củng cố và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở . Chỉ đạo triển khai thực hiện Quy định số 01-QĐ/TU ngày 03/3/2016 của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ Quảng Bình về trách nhiệm và xử lý trách nhiệm đối với người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu cơ quan, đơn vị nhằm tăng cường kỷ luật, xiết chặt kỷ cương hành chính.

Đã tích cực chỉ đạo, triển khai thực hiện tốt công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016 - 2021 bảo đảm theo kế hoạch, tiến độ, đúng quy trình và thời gian theo quy định của pháp luật. Tỷ lệ cử tri đi bầu cử đạt tỷ lệ 98,56%, số đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp trúng cử bảo đảm đúng theo cơ cấu, thành phần quy định.

18.2. Công tác cải cách hành chính:

Tiếp tục được chú trọng và có nhiều chuyển biến đáng kể. Công tác rà soát, đơn giản hóa thủ tục hành chính được chú trọng triển khai. Đã xây dựng kế hoạch cải cách hành chính, chỉ đạo nâng cao chất lượng hoạt động cơ chế một cửa và mở rộng thực hiện cơ chế một cửa liên thông. Phối hợp với Viện Khoa học tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ tham gia điều tra xã hội học xác định chỉ số cải cách hành chính năm 2015 trên địa bàn tỉnh.

18.3. Công tác thi đua khen thưởng:

Phong trào thi đua yêu nước tiếp tục được đẩy mạnh để chào mừng các ngày Lễ kỷ niệm lớn của đất nước, của tỉnh. Tổ chức thực hiện Phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới” giai đoạn 2016 - 2020.

Tuy vậy, triển khai thực hiện cơ chế "một cửa", "một cửa liên thông" một số cơ quan, đơn vị hiệu quả chưa cao; cải cách thủ tục hành chính một số sở, ban ngành, địa phương chưa đáp ứng yêu cầu; phong trào thi đua và công tác khen thưởng có lúc, có nơi thiếu chặt chẽ, chưa chú trọng chất lượng; một số cán bộ, công chức chưa đề cao trách nhiệm trong thực thi công vụ được giao.

19. Công tác thanh tra, tư pháp, phòng chống tham nhũng

19.1. Công tác thanh tra:

Công tác thanh tra tiếp tục được đẩy mạnh. Qua thanh tra đã phát hiện nhiều sai phạm về kinh tế, kiến nghị thu hồi và nộp ngân sách theo quy định. Công tác giải quyết khiếu nại tố cáo được chú trọng, xử lý đơn khiếu nại, tố cáo của công dân kịp thời, đúng thẩm quyền, thời gian quy định. Tăng cường các biện pháp đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Việc công khai, minh bạch các hoạt động của cơ quan nhà nước; thực hiện kê khai tài sản, thu nhập, công khai bản kê khai tài sản, thu nhập thực hiện theo đúng quy định.

Công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo có nhiều chuyển biến tích cực. Các cấp chính quyền địa phương đã quan tâm rà soát đơn thư khiếu nại, tố cáo; xem xét, giải quyết kịp thời, đúng trình tự, thủ tục quy định.

19.2. Công tác thẩm định, góp ý, rà soát kiểm tra và tự kiểm tra văn bản QPPL:

Được triển khai thực hiện nghiêm túc, đảm bảo chất lượng, tiến độ. Công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật đã bám sát nhiệm vụ chính trị của địa phương. Công tác kiểm soát thủ tục hành chính được quan tâm và có chuyển biến rõ rệt; công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật, quản lý nhà nước về xử lý vi phạm hành chính dần đi vào nề nếp. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý tiếp tục được đẩy mạnh và tăng cường với nhiều hình thức phong phú, đa dạng. Công tác thi hành án dân sự có chuyển biến tiến bộ.

Tuy nhiên, việc soạn thảo văn bản QPPL của một số sở, ngành chất lượng chưa cao, công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật triển khai còn hạn chế. Một số cuộc thanh tra còn chậm và hiệu quả chưa cao; một số địa phương chỉ đạo, điều hành công tác thanh tra còn chưa quyết liệt. Nhiều vụ việc khiếu nại, tố cáo kéo dài, vượt cấp chưa được tập trung giải quyết.

20. Quốc phòng, an ninh

Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Công tác quân sự - quốc phòng được chú trọng đẩy mạnh thực hiện toàn diện, lực lượng vũ trang duy trì nghiêm các chế độ sẵn sàng chiến đấu. Phối hợp các lực lượng nắm chắc tình hình trên địa bàn tỉnh. Hoàn thành tốt các nội dung huấn luyện quân sự, giáo dục chính trị cho các đối tượng theo quy định,... Đã tổ chức bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho cán bộ chủ chốt các cấp. Tiếp tục thực hiện công tác đối ngoại biên phòng, giải quyết các vấn đề liên quan về biên giới.

Đã triển khai thực hiện tốt kế hoạch bảo vệ tổ chức các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn, các hoạt động KT-XH trên địa bàn, đặc biệt trước sự cố ô nhiễm môi trường biển, nhân dân bức xúc, cộng với những hoạt động kích động của một số đối tượng phản động, phần tử xấu kích động người dân tụ tập, tuần hành, phản đối gây phức tạp tình hình an ninh trật tự nhưng các lực lượng chức năng đã tổ chức nhiều biện pháp để giữ dân và ổn định được tình hình an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh; thường xuyên nắm bắt tình hình, tổ chức nhiều đợt truy quét, trấn áp tội phạm có hiệu quả; đẩy mạnh công tác đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm. Tích cực triển khai các biện pháp quyết liệt nhằm đảm bảo trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh, tạo được những chuyển biến tích cực; tai nạn giao thông cơ bản được kiềm chế và giảm so với cùng kỳ trên cả 3 tiêu chí. Theo số liệu Ban An toàn giao thông tỉnh, đến ngày đến ngày 15/10/2016, toàn tỉnh đã xảy ra 206 vụ tai nạn giao thông, làm 86 người chết, 198 người bị thương, giảm 11 vụ, giảm 14 người chết, giảm 10 người bị thương so với cùng kỳ. Tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và an ninh biên giới tiếp tục được giữ vững.

Tuy vậy, sự cố môi trường biển đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sản xuất, đời sống của nhân dân các xã ven biển. Ngư dân do không có việc làm, thu nhập, lại bị kẻ xấu kích động gây mất an ninh trật tự trên địa bàn một số xã.

21. Công tác chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp

Chính quyền các cấp đã nghiêm túc triển khai thực hiện các giải pháp chỉ đạo, điều hành của Chính phủ. Công tác chỉ đạo, điều hành của UBND tỉnh, chính quyền các cấp được triển khai toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Quan tâm chỉ đạo những lĩnh vực trọng tâm, các dự án, công trình trọng điểm; tổ chức gặp mặt để tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp; chỉ đạo triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới; đẩy mạnh thu hút đầu tư; giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo; cải cách thủ tục hành chính, đẩy mạnh công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí; tăng cường quốc phòng - an ninh, giữ vững trật tự an toàn xã hội... Đặc biệt, trước sự cố môi trường biển do Fomosa gây ra và ảnh hưởng của 2 trận lũ lụt trong tháng 10, tập thể UBND tỉnh đã nêu cao tinh thần trách nhiệm, đoàn kết, nhất trí đưa ra những giải pháp quyết liệt, đồng bộ để giúp cho nhân dân, doanh nghiệp sớm ổn định tình hình sản xuất và đời sống.

Một số chỉ tiêu còn đạt thấp, nhất là nhóm chỉ tiêu về kinh tế; một số lĩnh vực phát triển chưa đáp ứng yêu cầu đề ra, ngoài lý do khách quan đã nêu trên, có một phần là do trách nhiệm, năng lực điều hành của các cấp, các ngành còn có mặt hạn chế; việc chỉ đạo, điều hành ở một số khâu, một số lĩnh vực, một số việc có lúc thiếu chủ động chưa kịp thời, mạnh mẽ và quyết liệt. Nhưng trong bối cảnh gặp rất nhiều khó khăn trong năm 2016, những kết quả đạt được là hết sức quan trọng, tạo điều kiện cho các cấp, các ngành, các doanh nghiệp và nhân dân nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, vươn lên phấn đấu hoàn thành các chỉ tiêu, nhiệm vụ của kế hoạch phát triển xã hội năm 2017 và kế hoạch 5 năm 2016 – 2020 mà Nghị quyết HĐND tỉnh đã đề ra.

Nguồn: Báo cáo số 260/BC-UBND ngày 28/12/2016

[Trở về]