Bản in     Gởi bài viết  
Vị thế Quảng Bình từ góc nhìn địa văn hóa 
1. Khái quát về vùng đất Quảng Bình

Quảng Bình là vùng đất nằm trải dài từ 18005' xuống 16055' vĩ Bắc và từ 105037' đến 107000' kinh Đông. Phía Bắc giáp Hà Tĩnh, phía Nam giáp Quảng Trị, phía Tây giáp Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào với đường biên giới là 201,87km, phía Đông là bờ biển dài hơn 116km.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Quảng Bình thuộc Bộ Việt Thường của nhà nước Văn Lang, nhưng theo các tài liệu nghiên cứu sau này, Việt Thường là tên của quốc gia cổ đại hình thành trên cơ sở của các bộ lạc sau khi xã hội nguyên thủy tan rã, bước vào ngưỡng của xã hội văn minh đầu tiên - tức xã hội nô lệ gia trưởng. Nhà nước Việt Thường Thị xuất hiện vào đầu thiên niên kỷ thứ II trước công nguyên.

Thời Bắc thuộc, Quảng Bình khi thuộc quận Tượng Lâm, khi thuộc quận Nhật Nam. Năm 192, Quảng Bình lại thuộc lãnh thổ Lâm Ấp. Đến năm 758, Lâm ấp đổi tên là Chiêm Thành, Quảng Bình nằm trong 2 Châu: Châu Bố Chính và Châu Địa Lý. Năm 1069, Lý Thường Kiệt là người đem Quảng Bình về trọn vẹn trong lãnh thổ Đại Việt sau cuộc chiến tranh Việt Chiêm.

Là đoạn cuối của dãy Trường Sơn trùng điệp, Quảng Bình không chỉ nổi tiếng về những tấm lòng quả cảm, về sự hy sinh mất mát của vùng đất tuyến đầu tổ quốc trong những năm chiến tranh chống Mỹ mà còn nổi tiếng bởi những hang động được xếp vào di sản thiên nhiên của thế giới chứa đựng nhiều dấu ấn lịch sử của sự phát triển loài người, của những điều mà ít người biết đến. Ấy là câu chuyện của di chỉ văn hóa Bàu Tró, ấy là câu chuyện về vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng ẩn chứa rất nhiều điều thú vị về văn hóa của các cộng đồng thiểu số. Những vết chân in trên những dải cát mênh mông kia cũng là những câu chuyện dài chưa nói hết...

Quảng Bình còn là vùng đất địa linh nhân kiệt, bởi sự giao thoa của các nền văn hóa cổ đại cùng những lễ hội dân gian truyền thống: Lễ hội đua thuyền, cầu ngư cầu mùa, tưởng niệm thành hoàng... Với những nghi lễ hết sức đa dạng, phong phú theo từng địa phương.

Với tôi, Quảng Bình hết sức hấp dẫn. Quảng Bình như một chiếc bánh đa, nếu được nướng khéo, cảm giác giòn tan trong vòm họng, vị bùi của gạo, vị thơm của vừng sẽ làm ta không thể không tiếp tục thưởng thức, ngược lại, nếu bị nướng cẩu thả, chiếc bánh đa sẽ bị chai cứng, chẳng còn hấp dẫn...

Quảng Bình là thế, rất mộc, rất đời, rất thú vị nhưng rất tiếc là quá ít người hiểu được giá trị vô hình này để khai thác và cảm nhận.

2. Những câu chuyện ít người biết đến

Đồng Hới là thủ phủ của Quảng Bình, nguồn nước ngọt cung cấp cho cư dân ở đây được lấy từ Bàu Tró. Ngoài tầm quan trọng ấy ra, hồ Bàu Tró còn là niềm tự hào của người dân Quảng Bình bởi giá trị về khảo cổ học. Sau khi khai quật các hiện vật có niên đại khoảng 5.000 năm tuổi tại hồ này, các nhà khảo cổ Pháp đã lấy tên của di chỉ này để đặt cho nền văn hóa hậu kỳ đá mới phân bố ở vùng ven biển Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên là văn hóa Bàu Tró. Các hiện vật Bàu Tró là những di vật quan trọng cho việc nghiên cứu dấu tích của người Việt tại khu vực Trung Bộ.

Hiện nay, Bàu Tró đang được đề nghị một chế độ bảo vệ nghiêm ngặt vì nó chẳng những là nguồn nước phục vụ sinh hoạt cho một vùng cư dân trù phú mà còn là một di chỉ khảo cổ học, một thắng cảnh nổi tiếng.

Di chỉ khảo cổ học Bàu Tró ở vào 106 độ 37'13'' kinh độ Đông, 17 độ 29'30'' vĩ độ Bắc. Cuối mùa hè năm 1923, nhà địa chất kiêm khảo cổ học Páttơ (Etinen Patte) đã tổ chức khai quật Di chỉ Bàu Tró. Hiện vật thu được còn lưu giữ tại Viện bảo tàng lịch sử Việt Nam gồm công cụ lao động và những mảnh gốm vỡ, xương cá, vở sò...

- Công cụ săn bắt, trồng trọt: Rìu bôn, cuốc là những công cụ sản xuất quan trọng nhất đều được mài toàn thân và rìu bôn có vai là công cụ đá tiêu biểu nhất của văn hóa Bàu Tró.

- Công cụ chế biến thức ăn: Hòn đá bằng thạch anh (Páttơ gọi là hòn ghè: Perueteur) và bàn nghiền hạt;

- Công cụ chế tác đồ gốm: Dụng cụ đá dùng để tu chỉnh ép (Reto-uchoir), 1 số thổ hoàng (đá son) cùng những mảnh gốm vỡ khá phong phú và đa dạng, bao gồm 3 loại khác nhau: Gốm đáy nhọn văn chải 2 mặt, gốm đáy tròn văn thừng, gốm đáy tròn hoặc có chân để trang trí khắc vạch trên nền thừng kết hợp với tô màu đỏ;

- Công cụ đánh bắt cá: Chì lưới và đốt xương sống cá, vỏ sò...

Với những di vật được khai quật, ta thấy được cư dân tại đây đã đạt đến trình độ chế tác công cụ lao động cao và khẳng định tư duy lao động thời ấy đã có nhiều tiến bộ. Nhất là những hoa văn trang trí trên những mảnh gốm vỡ cũng đã thể hiện được khả năng thẩm mỹ của người xưa. Những điều này chính là nét đặc trưng quan trọng phân biệt giữa văn hóa Bàu Tró với các văn hóa đá mới khác.

Cùng với Bàu Tró, một số hang động thuộc khu vực Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng cũng đã được khai quật và được khẳng định là văn hóa Hòa Bình từ một nữ khảo cổ người Pháp tên Madeleine Colani vào năm 1926. Sau khi phát hiện nhiều di vật ở các hang động phía Tây Quảng Bình, bà kết luận: Có sự hiện diện của văn hóa Hòa Bình ở khu vực này.

Chủ nhân của văn hóa Hòa Bình trên đất Quảng Bình thời tiền sử đã sống trong các hang động, các mái đá. Họ thường chọn những nơi nhiều ánh sáng và gần nguồn nước nên những di vật còn sót lại cho thấy thức ăn chủ yếu có được là do kết quả từ việc đánh bắt cá và hái lượm. Dần dần, theo mực nước thủy triều rút xuống, họ đã lần theo các triển sông có đất đai màu mỡ di cư xuống đồng bằng ven biển, chinh phục thiên nhiên, xây dựng lảng bản. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy những di chỉ làng ven các dòng sông như: Di chỉ Cồn Nền nằm ở bờ Bắc sông Gianh chừng 200m, di chỉ Lệ Kỳ nằm sát một dòng sông cổ bị vùi lấp v.v... đều thuộc hậu kỳ đồ đá Bàu Tró kéo dài sang đầu thời đại kim khí.

Từ đó, có thể nói rằng văn hóa Bàu Tró cũng chính là sự nối tiếp của hóa Hòa Bình được lan rộng bởi những cuộc di dân của người tiền sử trên Việt Nam.

Ngoài ra những phát hiện trên, các nhà khảo cổ còn tìm thấy những dấu vết Chăm ở Phong Nha trên những bức tượng đá và bàn thờ xây bằng gạch đỏ Chăm vào thế kỷ IX-X. Cho thấy hang động này là nơi lưu giữ những dấu tích của người Chăm cổ từ miền Bắc vào miền Nam. Đặc biệt, hiện nay ở Phong Nha vẫn còn 97 ký tự cổ khắc trên đá tại hang Bi Ký.

Viện Khảo cổ học Việt Nam năm 1995 đã nhận định: Động Phong Nha là một di tích khảo cổ học vô cùng quan trọng; Những dấu tích ở hang Bi Ký trong động có thể là một thánh đường Chăm Pa từ thế kỷ IX đến thế kỷ XI. Nơi đây, cũng đã phát hiện nhiều mảnh vỡ các bình gốm tráng men Chàm cùng các mảnh gốm thơ sơ có lõi đen.

Nổi tiếng và được sắp vào di sản thiên nhiên thế giới, Phong Nha - Kẻ Bàng không chỉ là thắng cảnh thiên nhiên lưu giữ và chứa đựng nhiều di vật tiền sử mà Phong Nha - Kẻ Bàng còn có những cộng đồng thiểu số với những phong tục tập quán đa dạng và độc đáo.

a. Người Vân Kiều (còn gọi là người Bru)

Vốn là cư dân nông nghiệp có trình độ tương đối phát triển, tập trung sinh sống tại vùng trung Lào, sau những biến động của lịch sử diễn ra nhiều thế kỷ, họ phải di cư đi các nơi. Một số đi theo hướng Tây Bắc sang Thái Lan, một số đi theo hướng Đông tụ lại vùng miền núi phía Tây Quảng Bình, họ dựng làng xung quanh hòn núi Vân Kiều (núi Viên Kiều), về sau người Việt lấy tên của hòn núi đặt cho một tổng của người Bru, và từ đó họ còn được gọi là Bru - Vân Kiều. Ngôn ngữ của họ thuộc nhóm ngữ hệ Môn-Khơ Me, bên cạnh những nét văn hóa truyền thống, họ có tư duy sống không khác mấy so với người Kinh.

Trước kia y phục che thân chủ yếu từ vỏ cây rừng đập dập lấy xơ. Theo phong tục nam đóng khố, nữ mặc váy, áo chui đầu, không có tay. Đồ trang sức thường đeo là các loại vòng ở cổ, tay, khuyên tai. Xưa đàn ông, đàn bà đều búi tóc, riêng thanh nữ búi lệch tóc về phía bên trái, khi đã có chồng tóc được búi trên đỉnh đầu. Dấu hiệu này là sự khẳng định nhân thân của mỗi người. Ở một góc độ nào đó, thì đây là một tập quán rất nhân văn. Tập tục trong cưới hỏi của người Vân Kiều không khác gì người Kinh. Nhưng trong ma chay thì người Vân Kiều quan niệm, sống chết là quy luật của thiên nhiên, của tạo hóa (đây là một cách nghĩ rất sáng). Con người cũng như cái cây, con thú trên rừng vậy, có sinh ra lớn lên rồi sẽ chết đi. Sống được rừng che chở, được rừng cho cái ăn, cái mặc, ngôi nhà để ở, con nước để uống nên khi chết phải trở lại với rừng, tiếp tục sống gắn bó với rừng ở một thế giới khác. Người Vân Kiều thường chôn người thân dưới những gốc cây to, tượng trưng cho những lời khẩn cầu, mong thần rừng che chở cho linh hồn của người đã khuất và họ luôn coi chốn ấy là cõi thiêng bất khả xâm phạm. Thế giới tâm linh với người Vân Kiều là đặc biệt quan trọng, nơi những khu rừng được chọn cho cõi vĩnh hằng được bảo vệ rất nghiêm túc. Đây không chỉ là bảo vệ thế giới tâm linh của dân làng mà còn là gìn giữ những gì thuộc về nét đẹp trong phong tục tập quán của mình.

b. Người Arem (nằm trong nhóm tộc người: Arem, Chứt, Mày, Rục, Sách, Mã Liềng, Xá Lá Vàng)

Ngôn ngữ Arem thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường. Các nhà khoa học khẳng định, người Arem có gia tài văn hóa rất đặc biệt. Họ có ngôn ngữ, có phong tục với những bí ẩn lạ lẫm, chưa khám phá hết. Năm 1956 khi lần đầu tiên người Arem được phát hiện ở Quảng Bình, họ chỉ có chưa đến 100 người. Cuộc sống người Arem nguyên thủy trong những hang đá hoặc dưới rèm đá ở rừng già Phong Nha - Kẻ Bàng (huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình). Thời điểm đó, người ta cho rằng người Arem ngoài cuộc sống ''ăn lông ở lỗ''  ra họ không có bất cứ tài sản nào về tinh thần. Thế nhưng mới đây, người Arem đã là cho mọi người phải ngạc nhiên. Nếu ta gặp bất cứ một người Arem nào và hỏi: Thuộc tộc người nào? Người Arem sẽ không ngần ngại nói: ''Chăm rău Arem'' nghĩa là ''tôi là người Arem''.

Cách thể hiện này đã gây sự chú ý mạnh với các nhà ngôn ngữ học, ngôn ngữ và văn hóa người Arem hấp dẫn giới ngôn ngữ đến kỳ lạ. Theo nhà ngôn ngữ học Trần Trí Dõi thì đó là hình ảnh của tiếng Việt thời cổ xưa, như một nhà bảo tàng lưu lại các giai đoạn phát triển của tiếng Việt, là di chỉ cần ''khảo cổ'' để tìm hiểu lịch sử tiếng Việt.

Cũng theo nhà ngôn ngữ học Trần Trí Dõi: ''Trước đây, giới ngôn ngữ học rất là khó khăn trong việc chứng minh tiếng Việt xưa kia là song tiết (hai tiếng), qua quá trình vận động nó đã chuyển hẳn sang thứ ngôn ngữ đơn tiết (một tiếng). Khi tìm hiểu tiếng Arem và nhiều ngôn ngữ khác tương tự người ta đã giải thích được quá trình này. Dạng thức hai âm tiết rất phổ biến trong tiếng Arem, nếu người Việt nói gió, đất là một tiếng thì người Arem gọi gió là kaja, đất là atăk. Ngoài ra, căn cứ vào âm tiết, các nhà ngôn ngữ còn nghiên cứu tiếng Arem bề mặt thanh điệu (dấu) để chứng minh tiếng Việt xưa kia là ngôn ngữ chưa có dấu. Rất đáng tiếc, hiện nay ngôn ngữ Arem chỉ còn mỗi tiếng nói, vẫn chưa tìm được gia tài chữ viết của họ ở đâu. Tiếng nói người Arem chỉ dùng trong cộng đồng của mình. Những tộc người láng giềng như Ma Coong, Rục, Mày, Sách, Kinh... ít người nói được tiếng Arem. Nhưng hầu như người Arem nào cũng nói được tiếng của những tộc láng giềng, gặp người Khùa họ nói tiếng Khùa, gặp Ma Coong họ dùng tiếng Ma Coong để giao tiếp.

Với người Arem, con gái là tài sản quý của dòng họ, mỗi dịp ai sinh con gái họ liền mở rượu ăn mừng. Con gái đến tuổi lấy chồng, con trai phải làm lễ bỏ của theo yêu cầu của nhà gái. Lễ bỏ của phải có rượu, bạc, gà trống và tiền mặt. Lễ bỏ của bên nhà gái do cậu ruột quyết định và được hưởng trọn vẹn, bố mẹ của cô gái không được gì. Cưới xong cô gái đi làm dâu, nếu bên chồng làm việc gì để cô gái bỏ về thì chồng phải chuẩn bị 3 hũ rượu, 3 con gà trống và cả tiền mặt nữa qua nhà gái gặp cậu làm lễ xin lại vợ. Cậu đồng ý mới được mang vợ về, nếu để vợ bỏ về lần nữa thì lễ xin vợ tăng lên gấp đôi.

Trong thăm thẳm của mênh mông núi rừng, người Arem như hiện thân của nhiều bí ẩn nguyên sơ mà các nhà nghiên cứu cần quan tâm...

c. Người Ma Coong

Người Ma Coong thuộc tộc Bru Vân Kiều, cư trú thành từng bản làng nhỏ, rải rác từ biên giới Việt - Lào. Bản Cà roòng (xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình) mảnh đất linh thiêng của người Ma Coong. Nơi đây còn lưu giữ nhiều phong tục, tập quán mang đậm bản sắc văn hóa như lễ hội đâm trâu, lễ hội đập trống (đánh trống)... Lớn nhất là lễ hội đập trống. Ngoài ý nghĩa cầu mùa màng bội thu, lễ hội này còn có một tập tục tương tự như đêm chợ tình Khâu Vai, là nơi giao duyên, gặp gỡ của đôi lứa nên có sức hấp dẫn rất lớn. Hằng năm vào ngày 16 thánh Giêng, người Ma Coong cả già lẫn trẻ, diện những bộ áo quần đẹp nhất, ở khắp các bản gần xa, thậm chí đồng bào Ma Coong ở tận nước bạn Lào cũng kéo nhau về bản Cà Roòng tham gia lễ hội đập trống.

Công việc mất nhiều thời gian nhất, đó là chuẩn bị chiếc trống lễ hội. Mỗi năm da bịt mặt trống được thay một lần. Người ta chọn những tấm da trâu đẹp, phơi khô rồi đem cất ở gác bếp, ngày tổ chức lễ hội mới đem ra bịt, tang trống thì được lưu giữ nhiều năm, khi hư hỏng mới thay thế cái khác.

Lễ hội đập trống được thực hiện vào thời điểm dưới ánh trăng tròn đầu năm (16 tháng Giêng âm lịch), trong sự thiêng liêng và sâu thẳm của núi rừng, thành viên ban chủ lễ trong bộ lễ phục truyền thống, áo màu đen cài khuy bạc, váy màu đen gấu viền đỏ, vòng bạc... (bộ lễ phục này chỉ được mặc trong dịp lễ hội đập trống và được truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác), với tâm niệm thành kính, khẩn cầu thần linh phù hộ, che chở cho con cháu của tộc người Ma Coong. Mở đầu buổi lễ, già làng lễ thắp sáng những cây nêu làm bằng sáp ong và khấn mời ''Giang và con ma mót'' về ăn xôi, uống rượu, chứng kiến lễ hội, phù hộ cho người Ma Coong có cuộc sống yên lành, làm ăn no đủ, mùa màng bội thu. Các thành viên khác của ban chủ lễ lần lượt thay nhau vào cầu khấn. Lễ cúng kết thúc khi chủ lễ bốc từng nắm lúa gạo ném ra nhiều phía.

Lễ cúng kết thúc cũng là lúc tiếng trống vang lên, từng nhịp trống dồn dập vang xa, vọng vào vách núi, phá tan sự tĩnh lặng của núi rừng. Tiếng trống và men rượu cần như tiếp thêm sức mạnh cho những người tham gia lễ hội. Từng tốp người cầm tay nhau nhảy múa, thay nhau đánh trống dưới ánh trăng, vừa đánh họ vừa hô to ''roa lữ giàng ơi'' (sướng quá trời ơi), mà phải đánh làm sao cho mặt trống nứt vỡ trước khi trời sáng. Người Ma Coong tin rằng, năm nào trống đánh kêu to và vang xa, nứt, vỡ sớm thì năm đó dân bản sẽ gặp nhiều điều may mắn, mùa màng bội thu.

Ai cũng được tham gia đánh trống, nhưng hăng nhất là lớp thanh niên, họ muốn mặt trống sớm nứt vỡ, để dẫn bạn tình vào rừng tình tự. Ngoài ra, người Ma Coong còn có một luật tục ngàn đời rất kinh khủng, ấy là trong 5 năm đầu đời, đứa trẻ phải chết theo mẹ để phục vụ mẹ nếu mẹ chúng chẳng may bị chết. Tuy nhiên những luật tục này ngày đã được giảm bớt.

d. Người Khùa

Người Khua sống hòa mình với thiên nhiên và vẫn duy trì được nhiều tục lệ riêng hết sức nhân văn nơi những triền núi phủ lau ngút ngàn ở miền Tây huyện Minh Hóa, Quảng Bình.

Tộc người Khùa rất coi trọng việc ứng xử với tự nhiên. Với rừng, họ thờ thần rừng, với sông suối họ thờ thần nước... Các loại thần, với người Khùa đều đồng nghĩa  với ma. Một người am hiểu dân tộc mình, nói rằng: ''Cái nơi ta sống có nhiều ma, nên nhà ai cũng có bậc cửa vào ra để thờ ma. Ma làm cho người của ta sợ, ma cũng làm cho người của ta thích kể chuyện, ma làm cho người Khua biết hát, biết uống rượu, ma làng cho người Khua biết sinh con đẻ cái...''. Những hiện tượng thiên nhiên, ốm đau, bệnh tật, không lý giải được người Khùa cho đó là ma và tổ tiên người Khùa đã sáng chế ra một vật thiêng, được coi như vị thần tối thượng điều khiển được ma, ấy là ''Tà Riềng''. Tà riềng là một loại khèn có tiếng nỉ non được thổi lên từ lồng ngực những người thông thái nhất bản sẽ đưa lại sự bình an cho người dân. Khèn Tà Riềng làm từ cây lồ ô nhỏ của vùng núi cao nhất bản, thanh âm trong vắt vỗ về ma trú ngụ trong từng căn nhà, để ma phù hộ cho người Khùa tai qua nạn khỏi, mùa màng khấm khá. Ngoài ra tiếng nỉ non của Tà Riềng còn làm cho những món ăn aboong, adoong, abiing ngon hơn từ cá suối, cá khe.

Quan niệm mộc mạc ấy rất nhân văn và đầy mơ mộng. Có lẽ cũng vì thế mà mọi thành quả từ chăn nuôi, trồng trọt, người Khùa dùng chủ yếu vào cúng bái, lễ lạc hơn là mưu sinh. Với người Khùa, phần hồn quan trọng hơn phần xác. Con người chết đi, hồn được lên cõi trời và ở đó mới có cuộc sống bất tử.

Người Khùa có một luật tục là tục cưới vợ ba lần. Tục này chắc rằng trên thế giới không có tộc người nào có, đó là đàn ông phải cưới vợ đúng ba lần. Đây không phải là cưới 3 người vợ mà chia giai đoạn cưới vợ ra làm 3 kỳ.

- Lần thứ nhất là ''bắt vợ'. Nói là bắt vợ nhưng không phải dùng vũ lực, bởi  diễn ra nhẹ nhàng. Chàng trai cùng ông cậu đến nhà gái, đập mạnh vào chân cầu thang nhà sàn, bố mẹ cô gái sẽ ra canh cửa. Ông cậu của chàng trai đưa qua khe cửa một thanh kiếm, một con gà, một chai rượu. Khi bố mẹ cô gái uống rượu với ông cậu, chàng trai len lén vào phòng đưa cô gái về nhà làm vợ. Một tuần sau, chàng trai đưa cô dâu về lại nhà bố mẹ vợ để làm lễ cơm thưa trình thành con rể, ở lại một ngày đốn củi đầy bếp mới về, như là cách trả ơn bố mẹ đã sinh ra cô gái cho mình lấy làm vợ.

- Lần thứ hai (được gọi là lễ cưới ngãi). Vợ chồng cật lực làm lụng, đến khi tích lũy được gia sản thì làm lễ cưới thứ hai, mời bà con xóm bản đến ăn uống chung vui. Nhưng cũng có người cưới ngãi chỉ sau vài năm.

- Lần thứ ba: Là lễ cưới quan trọng, rôm rả và long trọng nhất để chứng tỏ là một người đàn ông Khùa thực thụ. Đám cưới đó còn thể hiện uy lực của người Khùa khi quanh họ có con đàn, cháu đống về bên sân nhà sàn, bưng đầy từng ché rượu, cổ áo đính đầy đồng bạc. Heo, bò được mổ, gạo nếp được nấu, khách khứa vào ra ăn uống tấp nập.

Đám cưới lần ba này rất tốn kém, nhưng đó là phong tục phải làm. Tốn kém như vậy nên nhiều người Khùa khi lớn tuổi vẫn không tổ chức nổi lễ cưới lần thứ ba. Họ chết đi, con trai trưởng phải gánh vác trọng trách làm đám cưới ấy cho cha mẹ, gọi là ''đám cưới ma'. Người Khùa không thể bỏ đám cưới ma được. Họ quan niệm đây là luật tục đặc trưng quan trọng nhất của tộc người Khùa, để chứng minh sự thành đạt của đàn ông Khùa, nếu bỏ đám cưới này thì tộc người Khùa không còn là người Khùa nữa. Ngoài ra, người Khùa còn có tục giữ lửa.

Với quan niệm, dãy núi Giăng Màn trước mặt các bản Hà Vy, Dộ, Lòm, Cà-Ai, Tà Vờng, Cà Chăm là nơi tiếp sinh khí, sinh ra trí tuệ, sinh ra cái chữ, sinh ra tiếng nói, sinh ra niềm vui, nỗi buồn và cũng là nơi sinh ra nỗi sợ của người Khùa, sinh ra ma cho người Khùa. Vì núi Giăng Màn quanh năm phủ đầy mây, người Khùa phải có trách nhiệm vun vén cho ma núi nhiều khói sương hơn nữa để giữ gìn hồn cốt tộc người mình, nên già trẻ, gái trai đều hút thuốc. Hút thuốc là cách mà người Khùa - giữ lửa cho tộc mình.

Người Khùa tự trồng lấy thuốc lá, điếu thuốc người Khua hút to như ngón chân cái, nhả đầy khói, vướng vất quanh bản. Người Khua tin khói thuốc của họ càng làm núi Giăng Màn mờ ảo hơn và cho họ nhiều sức mạnh hơn. Họ nói, hút thuốc là cách để dân bản nhớ đến núi Giăng Màn, nhớ đến gốc gác, tổ tiên người Khùa. Cái bếp của người Khùa cũng không bao giờ tắt lửa, âm ỉ cháy để khói bay vào núi. Đấy là cách để nhắc nhớ cháu con người Khùa biết rõ nguồn gốc mà giữ gìn bản sắc của mình...

Nói đến những phong tục tập quán nhiều màu sắc của các cộng đồng thiểu số, không có nghĩa là tất cả đều đẹp, mà họ chính là những cộng đồng hiện có đời sống nghèo nàn lạc hậu với không ít hủ tục cần phải loại bỏ. Những tập quán muôn màu này chính là những bảo vật quốc gia cần phải được nghiên cứu, bảo tồn và phát triển.

Bảo vật này sẽ làm giàu cho kho tàng văn hóa Việt Nam, nếu ta biết cách bảo tồn và phát huy nó. Ở một góc độ nào đó, nếu được quan tâm đầu tư đúng mức, đây chính là tài sản vô giá của Quảng Bình mà ít nơi nào có được.

Chỉ điểm qua một vài tộc người tiêu biểu của cộng đồng thiểu sổ Quảng Bình, ta đã thấy được sự đa dạng phong phú của những nét văn hóa truyền thống lâu đời. Nếu được nghiên cứu, bảo tồn và phát huy những luật tục mang đậm nét nhân văn, Quảng Bình sẽ là một địa chỉ mà ai ai cũng muốn tìm đến để được tìm hiểu và chiêm ngưỡng.

Ngoài những cộng đồng thiểu số đặc trưng, Phong Nha - Kẻ Bàng từng là nơi tá túc của Vua Hàm Nghi trong phong trào Cần Vương ở địa bàn xã Hóa Sơn (nay thuộc huyện Minh Hóa).

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, rừng Phong Nha - Kẻ Bàng còn lại nhiều dấu tích lịch sử oai hùng như: Đường mòn Hồ Chí Minh Đông Trường Sơn, các di tích Hang Tám Cô, hang Chín Tầng, bến phà Nguyễn Văn Trỗi, các kho hàng hóa trong hệ thống hang động ở Tuyên Hóa, Minh Hóa... Động Phong Nha cũng có một thời được bộ đội đoàn 559 dùng làm nơi cất giấu hàng hóa và những chiếc phà sắt cồng kềnh để vận chuyển xe, hàng ra tiền tuyến.

Dưới góc nhìn của một người nghiên cứu về văn hóa, tôi nhận ra nhiều điều vô cùng quý giá nơi vùng đất này. Quảng Bình đang ôm trong lòng khối tài sản vô giá về lịch sử, văn hóa và thiên nhiên. Nói cách khác, Quảng Bình đang là viên kim cương thô chưa được nghiên cứu chế tác để rực sáng.

3. Vị thế Quảng Bình

Từ đó ta thấy, tuy là vùng đất cực hẹp của đất nước, có điều kiện khí hậu cực kỳ khắc nghiệt, nhưng Quảng Bình ôm trong lòng biết bao điều thú vị về giá trị khảo cổ, lịch sử, văn hóa hết sức đa dạng và phong phú. Quảng Bình có một vị thế quan trọng trong lịch sử phát triển và giao thoa văn hóa của các tộc người từ thời tiền sử cho đến ngày nay. Nếu được quan tâm nghiên cứu, khai thác, Quảng Bình sẽ còn nói lên được nhiều điều ẩn chứa tiềm tàng có giá trị.

Để khẳng được vị thế của mình trên khối tài sản vô giá này, Quảng Bình phải biết bắt đầu từ đâu và như thế nào.

Sự bắt đầu, ấy là tầm nhìn chiến lược và định hướng khai thác khối tài sản này.

Muốn khai thác được nó, Quảng Bình cần phải có những bước căn bản như sau:

- Kiểm kê và phân loại tài sản: Hữu hình và vô hình

- Chiến lược khai thác của từng nhóm tài sản

- Ghi chép, nghiên cứu, bảo tồn

- Với nhóm tài sản vô hình điều vô cùng quan trọng ấy là việc quy hoạch lại cộng đồng. Quy hoạch tôi muốn nói đến ở đây, không đơn giản về địa lý và dân số mà còn là quy hoạch từ góc nhìn văn hóa. Tuyên truyền cho cộng đồng hiểu được giá trị bản sắc văn hóa dân tộc mình để gìn giữ và khôi phục và xây dựng cộng đồng theo nguyên tắc bảo tồn và phát huy hết nét đẹp văn hóa truyền thống. Ấy chính là phương thức ''bảo tàng'' cộng đồng dựa theo tập quán truyền thống.

Làm được những điều trên, Quảng Bình như viên kim cương lấp lánh tỏa sáng.

Nguồn: Kỷ yếu hội thảo khoa học Quốc gia về danh nhân Quảng Bình

[Trở về]