Bản in     Gởi bài viết  
Võ Trọng Bình (1808-1898)

Võ Trọng Bình, sinh năm 1808, dưới triều vua Gia Long thứ 7. Người làng Mỹ Lộc, huyện Phong Phú, sau đổi ra là huyện Lệ Thủy cho đến ngày nay.

Làng Mỹ Lộc (còn gọi là Mỹ Lược) nằm phía bờ trái sông Kiến Giang; nếu tính từ nguồn xuống, Mỹ Lộc, trên giáp làng Xuân Lai, dưới giáp Lộc An, phía đông giáp sông, phía tây giáp các làng Quy Trinh, Phú Kỳ, Phú Hòa.

Làng có 4 thôn: Thôn Thượng, thôn Trại, thôn Trụ, thôn Hạ, mỗi thôn cách nhau một cái hói, do trời sinh có, do người đào có. Dân cư tập trung phần phía đông, giáp bờ sông, có ruộng vườn xanh tốt. Thời xưa, ngoài đất ruộng cạn và trưa má, ở phần giáp các làng Quy Trinh, Phú Hòa, Phú Kỳ, là ruộng sâu, gọi là Đuồi Mỹ Lược. Loại ruộng sâu (thời xưa gọi là ruộng su) này, mùa nắng thì cứng khô như đá, mùa mưa thì ngập nước, "năn’’ mọc cao gần quá đầu người, không thể cày bừa được, người ta phân dùng một dụng cụ chuyên dùng đề bứt hết ’’năn’’ gọi là "∆". Cái "∆" này bằng sắt, hình tam giác, giữa cũng khoét một hình tam giác thành chỗ trống, có cán đài bằng người đứng; Khi a năn(1) nguời ta cầm cán đưa lưỡi ’’∆’’ xuống tận đất dưới mặt nước, đẩy mạnh tới trước, cắt đứt các gốc năn, thân năn lọt vào lỗ trống phía trọng lòng cái ’’∆" nỗi lên mặt nước, rồi bị chân người đạp xuống bùn hóa thành một thứ phân xanh bón ruộng tại chỗ. Sau khi cắt hết gốc năn, con trâu mới kéo cày được.

Xưa kia, nếu có dịp bơi thuyên giữa đám ruộng mọc đầy năn này trong mùa nước chưa cày cấy, nhìn làng mạc phía đông ẩn hiện trong lũy tre xanh, lại nhìn cảnh núi rừng phía tây xa xăm, cảnh vật cũng hùng vĩ bao la lắm, trời mây non nước cũng man mác nên thơ lắm; và sau mùa cày cấy, khi ngọn lúa đã vươn cao lên hỏng mặt nước thì đuồi Mỹ Lược là một cánh đồng mênh mông như một tấm thảm khổng lồ, tùy sự trưởng thành của cây lúa mà thay đổi màu sắc, sóng lúa xào xạc, cánh lúa ẻo lả, ngửa nghiêng, theo ngọn gió xuân đưa đầy hương lúa đi, làm cho toàn cảnh vừa đẹp mắt, vừa thơm mùi mật ngọt, gợi lên một mối tình quê tha thiết làm sao!

Ông Võ Trọng Bình sinh ra từ cái làng quê có nước non phong thổ như vậy, lại là một làng quê nằm giữa cả một cụm ’’danh hương’’ nỗi tiếng giai nhân mặc khách, văn chương nếp đất, nào là Xuân Lai, Cỗ Liểu, Đại Phong, Tuy Lộc, An Xá, Thạch Bàn...

Dưới thời nhà Nguyễn (1802 - 1945), Võ Trọng Bình là một điển hình tuyệt mỹ về ’’liêm chính, công bằng’’.

Ông đậu ’’hương tiến’’ (cử nhân) năm 1834 dưới đời vua Minh Mạng (thứ 15), bổ đi làm tri huyện Hòa Đa (Quảng Nam). Mới ra làm quan, ông đã có tiếng về hành chính nên được triều đình điều về triều giữ chức giám sát ngự sử. Thời ấy, chức vụ ngự sử gần giống như chức vụ thanh tra ngày nay, thường được triều đình phó thác cho những vị quan công minh, chính trực. Với cương vị giám sát, ông đã dâng sớ hạch tội Nguyên Chấn tham ô, có đủ chứng thực rõ ràng, liền được thăng chức An Sát Sứ tỉnh Thái Nguyên.

Không những giỏi về hành chính, Võ Trọng Bình còn có khả năng về nông nghiệp và thường xuyên quan tâm đến đời sống người nông dân. Năm Tự Đức mới lên ngôi (1848), khi ông làm Phủ Doãn tỉnh Thừa Thiên, ông đã đề nghị nhà vua cho khơi sông Lợi Nông đưa nước tưới cho các cánh đồng các huyện phía nam kinh đô Huế, đắp đê ngăn mặn bảo vệ mùa màng và xin triều đình miễn giảm thuế công cho một số tỉnh gặp khó khăn.

Năm 1853, tới kỳ xét công tội chơ quan lại cà nước (3 năm một lần) vua thấy Võ Trọng Bình là nguời thanh, cần, không nhiễu dân chúng, thuởng cho một kim khánh hạng lớn có khắc 4 chữ ’liêm, bình, cần, cán’’ (thanh liêm, công bằng, siêng năng, tháo vát).

Năm 1856 (Tự Đức thứ 9) đang giữ chức Tổng đốc tỉnh Ninh - Thái, gặp lúc lụt bão, dân tình khó khăn, ông lại tâu xin hoãn việc truy dân thiếu thuế và binh lính bỏ trốn, triều đình y cho. Năm ấy đê điêu bị vỡ nặng, vua lo việc trị thủy chưa biết cử ai gánh vác, triều đình cho Võ Trọng Bình là người có tài về thủy lợi, đề cử lên vua gian trọng trách. Ông được đổi làm việc quản lý mọi việc đê chính, ông liền tâu xin: ’’Trước hết cho khơi sông Thiên Đức để chia thế nước, lại tính định việc công phí đắp đê". Vua theo như ý và dụ thêm rằng: ’’Công trình đắp đê ở Hà Nội rất khẩn thiết, các huyện vùng thượng lưu thế nước rất mạnh, đó là những nơi phải lo toan trước nên châm chước liệu định, chậm, chóng, không nên câu nệ mà phải thất sách’’...

Năm 1861 (Tự Đức thứ 14) ông lại tâu vua ba việc vỗ về và dẹp yên ở Bắc Kỳ:

- Thay đổi quan lại đồi tệ.

- Miễn việc trừ lương của binh lính (khi có tội).

- Miễn tội cho người có tội mà ra thú.

Vua khen phải và cho thi hành. Hai năm sau (1863) ông được cử làm Thượng thư bộ Hộ (tài chính) kiêm bộ Công (giao thông, xây dựng) sung cơ mật đại thần.

Năm 1864 (Tự Đức thứ 17) quân thổ phỉ nhà Thanh vào cướp tỉnh Lạng Sơn. Vua liên đổi Võ Trọng Bình làm tổng đốc hai tỉnh Ninh - Thái sung kinh lược những đạo Ninh, Thái, Lạng, Bình, cho 30 lạng bạc và phái 1.500 binh lính đi theo dẹp giặc. Trọng Bình mang cờ tiết lên Bắc Ninh, Cao Bằng, bị giặc chặn đường tiếp tế lương thực, ông liền tiến quân đánh vào Quang Lang, thuộc Lạng Sơn, giặc bỏ đồn trốn ngay trong đêm, khai thông được đường trạm, lại tiến đánh thành Lạng Sơn, đưa hịch cho các thân hào trong tỉnh Cao Bằng vận đang quân nghĩa dũng, nơi thì đóng giữ chống chọi, nơi thì đặt phục binh đón đánh; thế giặc khá mạnh, đôi phen đánh úp đại binh của ông, nhưng ông đêu chiến thắng. Tháng 3 năm ấy (1866 Tự Đức thứ 19), quân ông thu phục lại được Cao Bằng, bọn trùm thổ phỉ là Trương Cận Bang, Lưu Sỹ Anh, Hoàng Trung, Ngô Hòa Khanh lần lượt tới cửa quân hàng.

Bấy giờ, các tỉnh ở Bắc Kỳ, về vùng biên giới luôn luôn báo động, tỉnh nào cũng dâng sớ xin cho các phủ huyện đặt thành trì phòng bị. Ông tâu bày:

- Thành trì là hiểm hữu hình mà nhân tâm là hiểm vô hình, không nên bắt dân đã nhọc sức lâu rồi nay thêm lực dịch nữa, sợ có hại đến sức dân.

Ý ông là muốn cho dân vay tiền sắm vũ khí để tự bảo vệ làng xóm mình và nên cho thổ hào mộ lập quân dồn điền, lựa chọn thổ hào làm quản đồn nơi biên giới. Vua đều theo lời bàn.

Tới lúc kinh sư xẩy ra vụ Đoàn Trưng, Đoàn Trực khởi nghịch, Vua triệu ông về làm Thượng thư bộ Lại, kiêm quản Quốc Tử Giám, sung cơ mật đại thần.

Nhân lúc Nguyễn Tri Phương từ Hải Dương về kinh, vào chầu vua, báo cáo việc quan lại phía Bắc tệ hại, xin lựa một vị đại thần ra thanh tra, chỉnh đốn để yên lòng dân, vua hỏi: Chọn được người như vậy rất khó, biết chọn ai bây giờ. Nguyễn Tri Phương tâu: - Nên lấy Võ Trọng Bình làm việc ấy. Vua đáp:

- Nơi biên viễn là trọng, nhưng kinh sư còn trọng hơn. Không cho. Năm 1868 (Tự Đức thứ 2), giặc Ngô ở Cao Bằng lại làm phản, đánh úp lấy thành. Vua cho Trọng Bình am hiểu tình thế biên cương, chuẩn cho làm Hiệp Biện, lĩnh Tổng đốc Hà - Ninh, sung Khâm Sai đại thần ở 3 nơi quân thứ: Tuyên, Thái, Lạng để mưu tính đánh dẹp.

Năm thứ 22 (1869) khi hai tỉnh Lạng - Bình (Lạng Sơn, Cao Bằng) đã được khôi phục, ông lại kiêm sung tổng đốc hai đánh đó, thế rồi, giặc lại đánh cướp Tuyên Quang, Võ Trọng Bình đã cùng tán tương quân vụ Nguyễn Văn Tường thương lượng cùng tướng nhà Thanh là Phùng Tử Tài hội quân cùng nhau tiều trừ.

Mùa thu năm 1880 (Tự Đức thứ 33), nhân Trọng Bình vào chầu, Vua hỏi:

- Việc trận mạc ở ngoài biên Bắc Hà chưa biết ngày nào được yên. Hiện nay thanh tán thì nhiều, nhưng chưa có người nào vốn có phẩm vọng để cùng với Hoàng Tá Viêm bàn luận! Khanh, nếu như chung mạt chức hiệp đồng với Tá Viêm, cùng Tá Viêm thương nghị, có giúp nên được việc không?

Ông tâu rằng:

- Thần tính thô suất, việc binh lại không sở trường, không dám đảm đương, nếu cho thần ly nhiệm ở Sơn (Lạng Sơn), khi gặp việc cùng bàn luận, có thể nghe nhau.

Vua lại hỏi:

- Khanh trị dân như thế nào mà thấy dân yên?

Ông tâu:

- Duy không dung túng lại nhũng, tư tối, nghiêm bắt trộm cướp, không cho phủ huyện kéo dài các việc kiện tụng của nhân dân, gặp việc phải xét xử nhanh chóng, bản thân tự trong coi thuế lệ để chiếu cố cho nhân dân, thu phát rõ ràng.

Lúc bấy giờ, có lời bàn tán, đồn đại đến tai vua về việc vận chuyển ở Bắc Kỳ không được trong sạch, ngay thẳng, ảnh hưởng đến việc quân, việc dân, ông đề nghị nên làm lại việc quản lý ở Nha tàu thuyên, tự nguyện xin được lui tới kiểm soát, trông coi, vua cho Trọng Bình là mẫn cán lại tự đương đảm, bèn chuẩn cho làm Tổng đốc Định - Yên kiêm trông coi việc Thuyền Chính.

Năm 1883, (Tự Đức thứ 36), quân Pháp từ Hà Nội tới bức bách thành Nam Định, tàu chiến địch tới sông Vị Hoàng bắn phá dữ dội, quân bộ địch đánh vào cửa đông, ông cùng quan bố chính Đồng Sỹ Vịnh, án sát Hồ Bá Ôn ở trong thành chống chọi, đề đốc Lê Văn Điểm ra ngoài thành giao chiến từ giờ mão đến giờ ngọ (8 giờ sáng đến 12 giờ thua). Điểm chết, Ôn bị thương, thành bị mất.

Võ Trọng Bình bị cách chức về kinh đợi xét.

Năm ấy Tự Đức băng. Nội bộ triều đình phân hóa ra hai lực lượng: Một bên chủ chiến, một bèn chủ hòa. Dục Đức bị phế truất, Kiến Phước lên ngôi.

Năm đầu Kiến Phước (1883) Võ Trọng Bình lại được phục chức cho làm công việc thương biện (thương mại) ở tỉnh Nghệ An rồi sau triệu về kinh, cất lên làm Thượng thư bộ Hộ (tài chính), nhưng ông xin về hưu, mãi đến năm 1885, năm đầu niên hiệu Đông Khánh, mới được chuẩn y với hàm Thượng thư hưu trí.

Ông mất năm 1899, thọ 91 tuổi, vào đời vua Thành Thái thứ 10 được truy tặng hàm Hiệp Biện Đại học sĩ.

Dưới con mắt của người thời bấy giờ, Võ Trọng Bình là người cứng rắn, thẳng thắn, ngay thẳng và thực thà đến đâu cũng có tiếng ’’liêm, bình’’ (thanh liêm và công bằng) dẫu sở đoản về quân sự nhưng rất sở trường về cách trị dân, ở đâu dân yên đó, đi đâu dân nhớ theo, trải khắp trong triều ngoài quận 50 năm có lẻ, thực xứng câu Hán Chương đã nói: ’’An tĩnh chí lai, khẩn bức vô họa’’, nghĩa là kẻ lại yên tĩnh, thành thực không hoa mỹ (phô trương).

Bà Từ Du, mẹ vua Tự Đức, thường nói với con cháu cùng với văn võ triều đình rằng: "Bà ước mong đất nước được có nhiều ông quan như Võ Trọng Bình’’.

Đối với người Quảng Bình thì ông là một mẫu quan lại thanh liêm, nên dân gian Quảng Bình có câu: ’’Thanh liêm chỉ có Võ Trọng Bình’’. Trong khi đó người khắp hai huyện Quảng Ninh - Lệ Thủy (trước đó còn gọi là Phong Lộc - Lệ Thủy hay Khang Lộc - Phong Lộc) đều tận mắt nhìn thấy ông Võ Trọng Bình, một vị Thượng thư với hàm Hiệp biện Đại học sĩ nhất phẩm triều đình, khi về hưu chỉ có mấy chục cái chén bát mâm đũa bằng gỗ, bằng tre, sống trong một gian nhà 05 gian mái tranh vách đất, ra đường đi bằng đôi guốc mộc! Giản dị thay! Thanh đạm thay!

Ấy thế mà, trong cơn hỗn loạn của vụ biến kinh đô thất thủ, (5-7-1885) vua Hàm Nghi xuất bôn ra Tuyên Hóa, trong khi chuyển vận, có gởi cho ông một số đài (thùng gỗ) vàng bạc châu báu để nhẹ gánh đi nhanh đến nơi càn cứ; ông vẫn không hề tơ hào, trung thành với vua giữ kỷ, đến khi người Pháp chiếm đóng Động Hải, ông sợ số vàng sẽ lọt vào tay đối phương, bèn đem thả xuống phá Hạc Hải.

Mặc dầu câu chuyện chỉ là truyền tụng không có văn bản, nhưng cứ đời này qua đời khác vẫn giống nhau, sau trước không sai, tưởng cũng chưa phải là hư truyền, tưởng cũng ít nhiều từ có thật mà phát sinh ra, bởi vì, quan về hưu ở Lệ Thủy khá nhiều, sao sự kiện không dính vào nhân vật khác, lại dính vào Võ Trọng Bình.

Theo Quảng Bình nhân vật chí

[Trở về]